Ông chủ làm vẻ vang cho ngôi nhà chứ không phải ngôi nhà làm vẻ vang cho ông chủ".
Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011
Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011
Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011
"Dịch"... ăn nhậu và hiểm họa của một xã hội tiêu dùng
Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011
Tiền nhàn rỗi bỏ vào đâu?
Dưới đây là phân tích của các chuyên gia kinh tế.
Ngoại tệ “hết thời”
Trong bối cảnh hầu hết các kênh đầu tư như vàng, ngoại tệ, chứng khoán đều trầm lắng, gửi tiết kiệm đang được xem là kênh đầu tư hấp dẫn, đặc biệt với người có tiền nhàn rỗi khoảng vài trăm triệu đồng trở lại.
Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn cho rằng trong thời điểm này gửi tiết kiệm tiền đồng có lợi hơn do LS cao và Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hàng loạt điều chỉnh nhằm tăng sức hấp dẫn của tiết kiệm VND như giảm LS USD, tăng cung ngoại tệ cho thị trường.
Kỳ vọng tỉ giá USD sẽ phải giảm thêm, chênh lệch LS giữa VND và USD hiện nay lại quá lớn là hai yếu tố mà người muốn cất giữ tài sản bằng ngoại tệ nên cân nhắc vì khả năng tỉ giá tăng 11% trong năm nay để bù đắp chênh lệch LS là rất khó.
TS Lê Thẩm Dương, trưởng khoa quản trị kinh doanh Trường đại học Ngân hàng TP.HCM, cho rằng LS VND hiện nay được xem là khá hấp dẫn và khả năng sinh lời có thể thấy trước mắt. Cũng theo các chuyên gia, trong trường hợp lạm phát cả năm có lên đến 13,5%/năm như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán thì người gửi tiền vẫn có lời do LS hiện nay lên đến 14%/năm, chưa kể các khoản khuyến mãi.
Mức LS huy động VND cao như hiện nay sẽ khó duy trì lâu vì tới đây khi nguồn vốn VND dồi dào, các ngân hàng sẽ phải tính toán giảm LS do Ngân hàng Nhà nước đã khống chế tăng trưởng tín dụng năm 2011 ở mức 20%. Do vậy, theo TS Dương, nên tính toán sớm chuyển vốn USD sang VND, đồng thời chọn gửi kỳ hạn dài để hưởng LS cao.
Vàng: nhiều rủi ro
Ông Trần Thanh Hải, tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và kinh doanh vàng VN (VGB), cho rằng qua những động thái gần đây của cơ quan quản lý dẫn đến tâm lý của giới đầu tư vàng không ổn định. Dễ thấy nhất là mấy tuần nay giá vàng trong nước đi ngược chiều giá thế giới, trong khi trước đây chỉ cần giá vàng thế giới nhích lên là giá vàng trong nước có thể làm mưa làm gió.
Hiện nay dù thấy trước xu hướng giá vàng thế giới tăng nhưng gần như không ai dám bỏ vốn vào vàng vì lo ngại giá vàng trong nước sẽ tiếp tục diễn biến ngược chiều giá thế giới. Đây cũng là tâm lý chung của các tiệm vàng nhỏ lẻ, họ chỉ giữ một lượng vàng nhỏ lẻ chứ không đầu cơ mặc dù ai cũng dự đoán giá vàng khó xuống.
Bất động sản: “kênh trú ẩn” an toàn
Dù thừa nhận chứng khoán vẫn khó phục hồi trong ngắn hạn, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đây vẫn là kênh đầu tư đầy tiềm năng đối với những người có tiền nhàn rỗi.
Tổng giám đốc một công ty chứng khoán cho rằng chứng khoán thường có xu hướng đi trước các biến động của kinh tế vĩ mô.
Do đó, những tác động của các chính sách kiềm chế lạm phát, nhất là chính sách tiền tệ được ban hành từ đầu năm, đến nay đã cơ bản phản ánh vào giá cổ phiếu trên thị trường.
Hàng loạt cổ phiếu đã rơi về mức giá khá thấp, thậm chí thấp hơn cả thời điểm VN-Index về mức “đáy” vào cuối tháng 2-2009.
“Nếu so sánh tương quan với các kênh đầu tư khác, chứng khoán không những có nhiều cơ hội sinh lợi sớm hơn khi thị trường phục hồi mà còn đem lại nhiều sự chọn lựa hơn cho những người có tiền nhàn rỗi...” - ông Lê Đạt Chí (ĐH Kinh tế TP.HCM) nói.
Theo chuyên gia này, hàng loạt doanh nghiệp niêm yết, kể cả lĩnh vực bất động sản (BĐS) hay ngân hàng, hiện có mức cổ tức khá hấp dẫn, với tỉ suất cổ tức/giá cổ phiếu xấp xỉ LS tiết kiệm. Do đó, thay vì gửi tiết kệm để hưởng LS cố định, nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu ngân hàng vừa hưởng cổ tức vừa có cơ hội hưởng chênh lệch giá khi thị trường phục hồi.
Tương tự, thay vì bỏ vốn đầu tư trực tiếp vào BĐS, nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu của những công ty BĐS có tiềm lực tài chính tốt. Một khi thị trường BĐS phục hồi, cổ phiếu BĐS cũng tăng giá, thậm chí tăng giá trước khi giá BĐS tăng trở lại. Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu BĐS không đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn như đối với việc đầu tư trực tiếp vào sản phẩm BĐS, chưa kể tiền đầu tư vào chứng khoán có thể thu hồi ngay nếu nhà đầu tư có nhu cầu.
Một số chuyên gia trong lĩnh vực BĐS cho rằng BĐS đang là “kênh trú ẩn” an toàn đối với dòng tiền nhàn rỗi, nhất là trong bối cảnh lạm phát cao như hiện nay.
Theo ông Hoàng Anh Tuấn - tổng giám đốc Công ty Tấc Đất Tấc Vàng, trong khi hầu hết các chi phí đầu vào, từ giá vốn (lãi vay) đến nguyên vật liệu đều tăng mạnh, giá BĐS thời gian qua không những không tăng thậm chí còn giảm.
Điều này giúp BĐS trở nên hấp dẫn hơn không chỉ đối với những người có nhu cầu an cư mà cả những nhà đầu tư có vốn nhàn rỗi.
Coi chừng “kẹt sóng”
Các chuyên gia cũng thừa nhận việc bỏ vốn vào kênh chứng khoán hay BĐS cũng đều chịu những rủi ro nhất định. Theo ông Hoàng Anh Tuấn, các yếu tố như tính pháp lý của dự án hay phân khúc thị trường sẽ là những rủi ro đối với những nhà đầu tư thiếu thông tin về thị trường BĐS.
Ngoài ra, theo ông Hưng, thanh khoản của thị trường BĐS cũng là một rủi ro. Những nhà đầu tư bỏ vốn vào BĐS với kỳ vọng “lướt sóng” ngắn hạn chắc chắn sẽ bị “kẹt sóng”, chưa kể những người có nhu cầu vốn đột xuất cũng gặp khó khăn khi bán sản phẩm để thu hồi vốn nhanh.
Trưởng phòng phân tích của một công ty chứng khoán cho rằng nguồn cung cổ phiếu trên thị trường dự báo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, khi hàng loạt doanh nghiệp tìm cách phát hành thêm để huy động vốn, sẽ là một trong những rủi ro lớn đối với nhà đầu tư khi quyết định bỏ vốn vào chứng khoán trong thời điểm này.
ÁNH HỒNG - HOÀI GIANG
Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011
Song don gian, hanh Phuc hon
Tác giả: THEO VĂN HÓA PHẬT GIÁO
Cuộc sống giản đơn sẽ tháo bỏ cho chúng ta những gông cùm trách nhiệm do chính chúng ta tự đeo vào cổ, giúp chúng ta có nhiều thời gian hơn để sống với những người thân yêu, nhiều thời gian hơn để thư giãn và thực hiện những điều mình yêu thích, nhiều thời gian hơn để chia sẻ giúp đỡ người khác.
Recomend
+7
Red
In
Chia sẻ (0)
MULTIMEDIAGALLERY
"Ước gì tôi không phải làm phòng mạch, tôi sẽ nằm dài nghe nhạc, xem sách và đi ngủ sớm, sáng dậy tập thể dục...". Anh bạn bác sĩ, đồng nghiệp, thế hệ 5x của tôi vừa đứng lên vừa uống vội ly cà phê rồi xin phép về sớm cho kịp giờ khám bệnh ở phòng mạch. Ra trường năm 1978, nay anh đã là một bác sĩ khá "thành đạt", chủ sở hữu một ngôi nhà ở quận 3, một ngôi nhà ở quận 7, vài miếng đất dự án ngoại thành, hàng ngày lái xe hơi đi làm ... gặp bạn bè, lúc nào anh cũng vội vội vàng vàng, rất thích bàn chuyện xe hơi, nhà đất và cũng rất hay than vãn, nào là quá bận rộn, không có thời gian học thi lấy thêm bằng này bằng nọ, nào là vẫn chưa đủ tiền để sắm thêm cái này cái nọ...
Anh là trường khoa của một bệnh viện lớn trong thành phố, làm việc tại bệnh viện từ 7g sáng đến 4g chiều, về nhà lại làm ngay tại phòng mạch đến 9g-10g tối, phòng mạch anh chữa "bá bệnh", từ chích ngừa uốn ván đến truyền dịch "phục hồi sức khỏe", từ các bệnh tiêu hóa, bệnh tim mạch đến bệnh tiểu đường... mặc dù chuyên khoa của anh là bệnh truyền nhiễm, sốt rét! Gần đây, biết anh bị tiểu đường, tôi khuyên anh tập thể dục nhiều hơn, anh phân trần:"Tôi đã mua mấy loại máy tập thể dục để trong nhà nhưng làm việc xong thì mệt nhoài chả còn hơi sức đâu mà tập, chỉ có Chủ nhật, lâu lâu đi đánh tennis một lần, thế thôi!" anh tiếp "mình chỉ ráng làm thêm một thời gian nữa rồi sẽ về nghỉ ngơi, sống cho ra sống!". Tôi tự nhủ, với quỹ thời gian còn lại của những người thuộc thế hệ 5x như anh và tôi, lại mắc thêm bệnh tiểu đường chữa trị không đúng phương pháp, không biết anh còn khả năng để "sống cho ra sống" cho đến lúc quyết định nghỉ ngơi nữa hay không?
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ của văn hóa tiêu dùng. Sự cạnh tranh giữa các công ty, các tập đoàn sản xuất, đã làm nảy sinh các chiến dịch quảng cáo rầm rộ, thường không trung thức, liên tục tấn công người tiêu dùng trên tất cả các phương tiện truyền thông, từ trong nhà, nghe radio hoặc xem TV, xem báo ... đến ngoài đường phố, với các bảng hiệu quảng cáo khổng lồ đập vào mắt người đi đường mọi lúc mọi nơi, kết quả đã tạo cho chúng ta một thói quen mua sắm và một nhu cầu giả tạo về các mặt hàng được quảng cáo. Lâu dần, một bộ phận lớn trong dân chúng sẽ tiêm nhiễm văn hóa tiêu thụ vật chất, tôn thờ của cải vật chất và sống theo quan điểm "càng có nhiều càng tốt, càng có nhiều càng hạnh phúc". Người ta mua sắm tích lũy của cải vô tội vạ, từ giầy dép, túi xách, quần áo, điện thoại di động, đến các loại xe gắn máy, xe hơi, nhà cửa biệt thự ... và luôn cố gắng theo kịp những kiểu dáng, những "đời" mới nhất để được xem là sành điệu, để được kính nể và để được "hơn" những người khác quanh mình.
Quan hệ giữa người với người cũng căn cứ trên cở sở vật chất của cải mà người ta sở hữu, mà người ta tặng cho nhau. Ai tặng ta nhiều thứ đắt tiền, ta sẽ thích họ, mang ơn họ, ai không đủ khả năng cho ta, ta sẽ coi thường và không muốn tiếp tục quan hệ, quên mất họ cũng là người như chúng ta. Tết năm rồi, khi được tôi lì xì 20 ngàn, đưa cháu của bạn tôi, mới 5 tuổi, tiu ngỉu: "ông lì xì cho cháu ít hơn chú D. nhiều, làm sao đủ tiền mua được cây súng điện tử kiểu mới" rồi bỏ chạ đi không thèm cảm ơn. Cha mẹ cháu chỉ cười xòa, nói "thằng này thông minh, biết xài tiền sớm".
Quay cuồng trong văn hóa tiêu thụ vật chất, mục tiêu sống của chúng ta sẽ luôn luôn phải là được sở hữu và sở hữu nhiều thứ hơn nữa. Để đủ khả năng mua sắm mọi thứ, chúng ta phải nai lưng ra làm việc, phải phấn đấu, phải tạo ra sức cạnh tranh để đạt được những địa vị, quyền lực ngày càng cao hơn trong xã hội, để có thể gia tăng thu nhập, gia tăng khả năng "kiếm chác". Chúng ta hy sinh hạnh phúc trong những giây phút hiện tại để miệt mài theo đuổi một viễn cảnh hạnh phúc hơn trong tương lai, nhưng thật kỳ lạ, chúng ta chẳng bao giờ cảm thấy đủ và chẳng bao giờ biết khi nào nên dừng lại. Ăn quá no, ta phải ngưng ăn để khỏi bị bội thực, uống quá nhiều rượu, ta phải ngưng uống để khỏi bị say, làm việc 40 giờ một tuần chưa làm chúng ta thỏa mãn, vậy thì tại sao không làm nhiều hơn để tăng thu nhập? còn trẻ, còn khỏe mà? Để về già sẽ nghỉ ngơi cũng chưa muộn. Vô ý thức, chúng ta tự thuyết phục rằng sẽ cảm thấy thỏa mãn khi và chỉ khi các việc mà chúng ta theo đuổi đã hoàn tất, "tôi chưa thể hạnh phúc vào lúc này, ngay bây giờ, vì chưa có thời gian cho chuyện đó". Đây chính là cách suy nghĩ sẽ làm cho chúng ta cạn kiệt sức lực và bất hạnh suốt đời.
Chúng ta quên mất rằng cuộc đời của chúng ta thật hết sức ngắn ngủi và chẳng có gì là vĩnh hằng, là bất biến. Hoa nở rồi cũng sẽ tàn, trăng tròn rồi trăng lại khuyết, thịnh suy biến đổi vô thường. Người đang giàu có sung túc, gặp bất trắc trở thành trắng tay. Người đang mạnh khỏe, sau một cơn bệnh nan y, phải nằm liệt giường liệt chiếu. Cũng có khi, đang khó khăn nghèo khổ, bỗng gặp may trở nên giàu có, đổi đời. Con người sống ngày hôm nay chẳng thể biết chắc ngày mai sẽ thế nào, vậy tại sao không tìm cách sống hạnh phúc mỗi ngày, ngay bây giờ?
Chúng ta quên mất rằng, quanh ta còn vô số những người cùng khổ cần nhường cơm sẻ áo, những người mà thu nhập hàng năm chưa bằng thu nhập một tuần của chúng ta, những người phải sống trong những điều kiện vô cùng khó khăn, không điện nước, xăng dầu, không trường học hay trạm y tế... một khi chúng ta gom góp, thu vén cho cá nhân theo triết lý "càng nhiều càng tốt", chúng ta cũng đã lấy mất đi một phần của những người đáng được hưởng hơn chúng ta. Chúng ta tiêu tốn lãng phí năng lượng, điện nước xăng dầu trong khi thoải mái tiêu dùng, đồng thời, chúng ta cũng thải ra một lượng lớn các chất thải độc hại cho mái nhà chung của chúng ta.
Đã đến lúc chúng ta phải hiểu rằng vật chất sở hữu không phải là nhân tố quyết định hạnh phúc. Thật vậy, tại các nước phát triển, mức thu nhập đầu người không ngừng tăng lên nhưng số thanh thiếu niên tự tử hàng năm lại tăng nhiều hơn trước và chỉ số hạnh phúc quốc gia cũng không tăng theo thu nhập. Trong khi một nước Bhutan nhỏ bé, nằm kẹp giữa 2 anh khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc, chỉ có 700.000 dân với lối sống truyền thống cực kỳ giản đơn, tuy có thu nhập đầu người khiêm tốn nhưng chỉ số hạnh phúc quốc gia "gross national happiness" (GNH) index lại rất cao (The Washington Post).
Cạnh tranh, phấn đấu thăng tiến, tích lũy, không hoàn toàn xấu nếu biết thế nào là đủ và dừng lại đúng lúc để tìm cách chia sẻ cho người khá và để có thì giờ hưởng thụ hạnh phúc ngay trong từng giây, từng phút, hiện tại. Muốn được như vậy, chúng ta chỉ còn cách đơn giản hóa cuộc sống hiện tại, loại bỏ bớt những gì không cần thiết, những nhiệm vụ, nhu cầu giả tạo, những thứ không đem lại một hạnh phúc thật sự, hạnh phúc "bên trong" mỗi con người chúng ta. Chúng ta không cần sống vì những lời tâng bốc, vì những của cải dư thừa mà hậu quả sẽ mang theo những rắc rối, lệ thuộc, biến chúng ta trở thành nô lệ của chúng. Triết học phương Đông có câu "người biết thế nào là đủ sẽ là người hạnh phúc".
Cuộc sống giản đơn sẽ tháo bỏ cho chúng ta những gông cùm trách nhiệm do chính chúng ta tự đeo vào cổ, giúp chung ta có nhiều thời gian hơn để sống với những người thân yêu, nhiều thời gian hơn để thư giãn và thực hiện những điều mình yêu thích, nhiều thời gian hơn để chia sẻ giúp đỡ người khác. Quan niệm hạnh phúc với lối sống giản đơn không phải là vấn đề mới xuất hiện gần đây. Từ ngàn xưa, trong triết lý của đạo Phật, trong kinh Cựu ước của Thiên Chúa giáo, của Lão Tử, đã có rất nhiều lời khuyên người ta phải biết sống giản đơn và hạnh phúc không phải do hoàn cảnh, vật chất quyết định mà chia sẻ mới chính là chìa khóa của hạnh phúc.
Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011
Tổng quan thị trường thép 2010.Dự báo thị trường thép 2011 (17/01/2011)
I, Thị trường toàn cảnh năm 2010
Trong 3 tháng của quí I và trải dài đến đầu tháng 4/2010, kinh tế thế giới có những chuyển biến thuận lợi, nhu cầu thép thế giới cũng như trong nước trên đà hồi phục.Sản lượng thép tiêu thụ trong nước bao gồm thép xây dựng và thép công nghiệp tăng lên đột biến, đặc biệt là thép xây dựng, tăng gấp hơn 3 lần so với tháng 12/2009.
Quý I năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi mạnh nhờ việc tiếp tục các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ,, tạo điều kiện cho các nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng, nhu cầu sử dụng thép và nguyên liệu thép thế giới tiếp tục tăng mạnh ( Giá quặng sắt trong các hợp đồng vào thời điểm đầu năm 2010 dự kiến tăng 10 – 25 % so với năm 2009, giá than cốc được ấn định ở mức 300 USD/tấn) trong những tháng đầu năm 2010
| |
| Biểu đồ giá phôi 2010 -Đường màu xanh là giá trung bình nhập khẩu phôi của các DN trong nước -Đường màu nâu đỏ là giá chào phôi tại các thời điểm trong nước Nhìn vào biểu đồ cho thấy độ trễ của việc nhập phôi + Tháng 1-tháng 5 giá phôi chào tăng vọt lên 670 nhưng giá phôi nhập về vẫn là 516 usd/tấn lúc này các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng được lợi khi giá được điều chỉnh theo giá phôi mới( xem biểu đò thép xay dựng tháng 4-5) +Tháng5- tháng8.Lúc này giá phôi chào hạ nhanh xuống dưới 500 usd/tấn nhưng mức phôi nhập về vẫn ở mức trung bình 600 usd/tấn.Lúc này chắc chắn Doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng chịu lỗ do giá thép xây dựng giảm sâu. + Tháng 8-12 Giá chào cũng thay đổi ít hơn so với giá mua phôi.Giá thép cũng đã được điều chỉnh tăng.Tuy nhiên tỷ giá tăng mạnh làm lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất cũng giảm rất nhiều. |
Nhìn chung trong năm 2010 có thể tóm lược diễn ra các giai đoạn như sau:
+Thị trường thép tăng liên tục cho đến hết quí 1 và lên tới đỉnh vào cuối tháng 3 đầu tháng 4.
+Qua tuần thứ 2 của tháng 4 thị trường giảm liên tục đến cuối tháng điều này cũng tương ứng với giá chào phôi giảm.
+Đầu tháng 7 thị trường tiếp tục đi lên và tăng đến cuối năm 2010.
II,Thép xây dựng
Trong những tháng đầu năm 2010 sản xuất và tiêu thụ thép tục duy trì ở mức khá cao do nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng.Tháng 01/2009: sản xuất thép ước đạt 370.000 tấn, lượng tiêu thụ ước đạt 300.000 tấn, tăng 65% so với cùng kỳ năm 2009.Tháng 02 sản xuất thép ước đạt 250.000 tấn lượng thép tiêu thụ ước đạt 230.000.Lượng thép sản xuất trong tháng 3-4 ước đạt 400.000 -425.000 tấn mỗi tháng tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm ngoái, kèm theo đó lượng thép tiêu thụ cũng tăng lên đáng kể trong 02 tháng này.Lượng thép tiêu thụ tháng 3 ước đạt 450.000 tấn, tuy nhiên tháng 4 lại giảm còng khoảng 320.000-350.000 tấn, ước lượng thép tiêu thụ 4 tháng đầu năm đạt 1,54 – 1,57 triệu tấn, tăng trên 35% so với cùng kỳ năm 2009.
| |
| Biểu đồ giá thép xây dựng trong năm 2010. -Màu xanh thể hiện thép cuộn trơn -màu đỏ thể hiện thép thanh vằn 295A (satthep.net) |
Trong năm 2010, theo biểu đồ giá thép xây dựng, ngay đầu tháng 4 giá thép xây dựng đã bắt đầu đi xuống, và kéo dài đến giữa tháng 06.Tuy trong tháng 4 giảm nhưng lượng tiêu thụ tuy giảm nhưng vẫn còn ở mức cao.Từ tháng 4 đến tháng 6 giá phôi giảm mạnh vì vậy giá thép giảm sâu xuống còn 12,800 vnd/kg.Tuy nhiên sau đó giá chào phôi đã tăng lên gần như liên tục và tỷ giá đã điều chỉnh tăng, lãi suất ngân hàng khiến giá thép xây dựng tăng theo chiều thẳng đứng lên tới giá 16.200 vnd/kg.Tuy nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp thép cũng không tăng mạnh theo giá do chi phí đầu vào tăng cao.
Thị trường thép xây dựng còn có sự cạnh tranh trực tiếp của thép xây dựng nhập khẩu.Trong năm 2010 thép nhập khẩu liên tục theo sát và bám đuổi thép sản xuất trong nước về giá cả và số lượng.Giá luôn bám sát và thấp hơn giá thép xây dựng trong nước từ 500-1000 vnd/kg tuỳ theo thời điểm.Số lượng cũng đang tăng lên do chất lượng, do giá cả được các nhà thầu trong nước chấp nhận ngày càng nhiều hơn.Đây cũng là một sự cạnh tranh ngày càng gay gắt cho thép xây dựng trong nước trong năm 2011
III,Thép công nghiệp(Thép cán nóng, cán nguội, mạ kẽm....)
Kết thúc năm dương lịch 2009 mức giá thép nằm ở mức 9,350VN/kg và ngay tuần thứ 2 của năm 2010 thị trường thép đã có mức tăng giá mạnh mẽ.Nền kinh tế Việt Nam lúc đó đang ở trong giai đoạn hồi phục mạnh mẽ và lạc quan.Gói hỗ trợ lãi suất 4% đã được triển khai và đến lúc phát huy hiệu quả
| |
| Biểu đồ giá thép công nghiệp các tuần trong năm 2010. -Màu xanh thể hiện thép cuộn cán nóng chính phẩm, -Màu đỏ thể hiện thép hình chính phẩm nhập khẩu H,I, U, V (satthep.net) |
Giá thép liên tục tăng trưởng nóng từ 9,350 vnd/kg đến giá 13,050 vnd/kg từ tuần thứ 1 (01/01/2010) đến tuần thứ 17(30/4/2010) của năm 2010. Tăng 3,700 vnd/kg và khoảng gần 30% so với mức giá đầu năm.
Trong giai đoạn này, đặc biệt là phôi thép có sự tăng giá mạnh mẽ từ 500 usd/tấn cho tháng 1-2 và tăng lên đến 610 usd/tấn vào cuối tháng 3.Bước qua, đầu và giữa tháng 4 mức chào giá phôi đã đạt đến mức 670 usd/tấn tăng 70 usd/tấn.Việc tăng này làm tăng các sản phẩm thép công nghiệp thế giới và đã thúc đẩy việc tăng giá các sản phẩm thép công nghiệp trong nước và việc tăng giá gần 30% là điều không tránh khỏi.
Ngay từ đầu năm 2010 gói hỗ trợ lãi suất đã bắt đầu giảm còn 2% và chấm dứt ngừng hỗ trợ vào quí 1/2010.Tuy nhiên, tác dụng của nó trong việc kích thích nền kinh doanh sản xuất vẫn còn và làm kéo dài việc tăng giá cho đến hết tháng 4.
Có lẽ mức đỉnh của mọi thứ nằm trong tháng 4, giá phôi sau khi chào đạt ở mức đỉnh đã đứng lại trong nửa cuối tháng 4 và đã không duy trì được để cuối cùng giảm xuống mức chào 660 usd, bắt đầu cho việc giảm giá.
Nửa cuối tháng 4 rất nhiều động tác kỹ thuật được các nhà máy, công ty thương mại đưa ra nhằm ổn định tình hình như: Tuyên bố tăng giá vào tháng tới, dự báo tình hình giá tăng, công bố duy trì giá xuất xưởng trong tháng tới........tuy nhiên cũng không chặn được đà tăng giá của thị trường thế giới
Thị trường phôi thép thế giới giảm giá kéo dài cho đến giữa tháng 06 đạt mức chào 495 usd/tấn và tăng trở lại ở mức 530 usd/tấn vào cuối tháng 06.Trong tháng 7 không có sự chuyển biến nào đáng kể về chào phôi.Sự tăng trở lại của giá chào phôi thép được hỗ trợ bởi giá các nguyên liệu đầu vào phế, quặng cùng tăng, các nhà máy đã giảm lượng hàng tồn sau kỳ bảo dưỡng máy móc, cũng như các tín hiệu khả quan từ các nhu cầu trên thế giới.
Giá thép trong nước cũng đạt mức đỉnh trong tuần cuối của tháng 4 và bắt đầu tháng 5/2010 giá thép công nghiệp bắt đầu giảm từ tuần 18 cho đến tuần thứ 26 (cuối tháng 6/2010).Như vậy, trong 2 tháng giá thép đã giảm từ 13.050 xuống còn 11.650 vnd/kg, mức giảm khoản 1400 vnd/kg.Sau đó trong 4 tuần tiếp theo giá thép tiếp tục duy trì ở mức 11.800 vnd/kg.
Nguyên nhân của việc giảm này cho, giá phôi chào của thế giới giảm, cộng với việc tăng giá quá nóng của ngành thép dẫn đến nhu cầu giảm, các doanh nghiệp đã không vay được gói hỗ trợ lãi suất .Tất cả nhưng điều trên làm cho nhu cầu trong nước giảm thấp và các doanh nghiệp buộc phải giảm giá bán để trả nợ ngân hàng.Trong giai đoạn này thị trường đang ở giai đoạn hết sức trầm lắng và đầy nguy cơ lo lắng về tình trạng tiêu thụ.
Bắt đầu từ tháng 8, với sự tăng trở lại của phôi thép, thị trường thép công nghiệp trong nước bắt đầu bắt nhịp tăng của thế giới.Giá các nguyên liệu thô(quặng, phế, than đá....) do các công ty tăng giá, các chính phủ tăng thuế xuất khẩu nhằm chặn dòng tài nguyên thép thô chảy ra nước ngoài, từ cuối tháng 6 đã tăng hỗ trợ cho việc tăng giá các sản phẩm thép công nghiệp và thép phô tuy rất chậm.Thị trường thép Trung Quốc lúc đó tuy còn rất ảm đạm, do chính sách kềm hãm bất động sản, phát triển kinh tế..... nhưng cũng đã xuất hiện nhưng tín hiệu cho thấy sự tăng giá trở lại.Trung Quốc cũng không thể nằm ngoài quy luật khi họ là nuớc sản xuất thép lớn nhất thế giới nhưng cũng là nước nhập khẩu lớn nhất.Trung Quốc rõ ràng phải chịu sự chi phối về giá các nguyên liệu thô.Đây là giai đoạn giằng co của Trung Quốc và các nhà cung cấp nguyên liệu thô về giá cả.Giá chào phôi về Việt Nam tăng mạnh mẽ trong tháng 8 và đạt 610 usd/tấn.Ngay lập tức thị trường trong nước đã phản ứng tăng 900 vnd/kg trong vòng 1 tháng đạt 12.700 vnd/kg vào tuần cuối của tháng 8.
Sau mức tăng ngoạn mục của tháng 8, sự tăng giá phôi đã ngừng và trong tháng 9 đã chào giảm xuống còn 590usd/tấn giảm 30 usd so với cuối tháng 8 và tiếp tục giảm 30 usd còn lại 560 usd/tấn vào giữa tháng 10.Thị trường trong nước cũng đã có sự điều chỉnh giảm giá nhẹ từ 12.800 vndkg ở đầu tháng 9 và kéo dài giảm đến giữa tháng 10 xuống còn 12.400 vnd/kg.Sự giảm này cho thấy sau khi đã tăng giá quá nhanh thì cần phải có thơi gian để thị trường chấp nhận.Tuy nhiên cộng với nhu cầu yếu trải dài trong quí 3 đã làm thị trường giảm lại một ít.
Vào giữa tháng 10 giá chào phôi bật trở lại và kéo dài cho đến hết tháng 12.Giá phôi tại thời điểm viết bài đã chào đến mức 630 usd.tấn.Thị trường trong nước cũng đã tăng theo giá phôi.Tăng từ giá 12.400 giữa tháng 10 để đạt đến mức giá 14.3 vào tuần thứ 3 của tháng 12/2010.
Trong giai đoạn này, ngoài giá phôi chào tăng có lẽ nguyên nhân chủ yếu và quan trọng nhất trong việc tăng giá thị trường thép chính là sự yếu đi của đồng tiền Việt Nam so với đồng USD.Tỷ giá VND/USD liên tục điều chỉnh tăng trên thị trường tự do từ mức 19.600 vnd/usd lên đến mức 21.700 vnd/usd và hiện tại dao động xung quanh 21.000 vnd/kg.Tỷ giá tăng làm cho giá thành thép trên /kg tăng lên .Ngoài thị trường đã điều chỉnh tăng giá tuy nhiên mức tăng không theo kịp với thiệt hại do tỷ giá mang lại.Các doanh nghiệp thép vẫn chịu thiệt hại to lớn.Thị trường quá ảm đạm khiến cho sự tăng giá không được hỗ trợ.Lãi suất tăng vọt vào những tháng cuối năm khiến cho chi phí lên giá thành càng tăng.Lãi suất còn làm cho nhu cầu vốn đã yếu ớt lại càng giảm hơn nữa.
Nhìn chung lại năm 2010 là một năm đầy khó khăn của ngành thép.Ngoại trừ 4 tháng đầu năm nhu cầu, giá cả có vẻ khởi sắc hơn một chút.Những tháng về sau thị trường nhu cầu thép công nghiệp luôn luôn ảm đạm.Hoạt động thị trường tồn tại ở mức rất thấp.Các hoạt động thương mại diễn ra sự mua bán thép giữa các doanh nghiệp là chủ yếu.
Đã có nhưng giai đoạn các doanh nghiệp đánh giá là mức đáy của thị trường, nên tập trung nhập hàng HRC mỏng <3mm>
Trong những tuần cuối năm 2010, thị trường thép nóng lên với các thông tin về tái xuất, các thông về giá chào phôi tăng lên hàng tuần.Các giá chào quốc tế về Việt Nam liên tục được điều chỉnh và đạt các đỉnh mới.Điều đó khiến cho giá thị trường thép trong nước cũng nóng lên và được điều chỉnh tăng.Tuy nhiên, mức tăng không theo kịp với mức tăng của thế giới.Thị trường đang chào đón sự tăng trưởng cuối năm của ngành thép và sự tăng giá sau tết âm lịch
Một năm qua đi cũng còn đó nhiều mối lo về sự bất ổn của tỷ giá, lãi suất ngân hàng cao và đối diện với nhu cầu thấp.Các doanh nghiệp thép bước vào năm 2011 với những sự dè dặt nhất định.
IV.Đánh giá và Dự báo năm Quí I/2011:
1.Qua biểu đồ phôi, thép xây dựng và thép công nghiệp cho chúng ta thấy sự liên quan chặt chẽ giữa các yếu tố này.Thép xây dựng, thép công nghiệp là các sản phẩm sau phôi chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố giá phôi nên biểu đồ gần như có sự thay đổi thuận chiều.
2.Các yếu tố ảnh hưởng đến giá phôi:
-Giá phế liệu từ các thị trường cung cấp phế liệu: Giá phế liệu được quyết định bởi các yếu tố như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, điều kiện thời tiết để khai thác, vận chuyển phế liệu.
-Giá quặng từ khoảng 5 nước cung cấp quặng chủ yếu trên thị trường thông qua các công ty cũng cấp quặng thế giới như BHP,Vale, ...Giá cũng được quyết định bởi các yếu tố như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, điều kiện thời tiết để khai thác, vận chuyển phế liệu.
-Trong năm 2010 chính phủ các nước có nguồn quặng, phế đã sử dụng các chính sách (nâng thuế xuất khẩu, cấm xuất khẩu...) nhằm hạn chế sự di chuyển của loại tài nguyên này ra nước ngoài(hoặc kiếm thêm lợi nhuận).Điều này làm nguồn cung cho nguyên liệu đầu vào của phôi ngày càng trở nên khan hiếm hơn cũng như đẩy giá lên cao hơn.
-Chính sách bán hàng của các công ty cung cấp quặng đã thay đổi từ giá bán theo năm thành giá bán theo quý và hiện đang muốn áp dụng giá bán theo tháng.Điều này sẽ làm sự liên thông giữa các yếu tố quặng-phôi-sản phẩm sau phôi trở nên directly(trực tiếp) hơn bao giờ hết.
-Các chi phí đầu vào như giá dầu diesel, giá than cũng làm tăng giá thành phôi.Đặc biệt trong thời gian vừa qua lũ lụt ở Úc đã làm việc khai thác, vận chuyển than trở nên khó khăn hơn... điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất.
3.Trong năm 2011 các yếu tố trên sẽ ảnh hưởng ngày càng sâu sắc hơn đến các sản phẩm sau phôi, vì vậy người kinh doanh thép cần theo dõi chặt chẽ để chủ động hơn trong kinh doanh.
Giá cả nhiều loại hàng hoá trên thị trường sẽ chịu tác động của một số yếu tố:
+ Giá phôi sẽ diễn biến tăng cao làm giá chào các sản phẩm thép HR,CR tăng cao
+ Các nhà máy tuyên bố tăng giá trong tháng 2-3
+ Tỷ giá sẽ ổn định trong quí 1.Lãi suất cũng sẽ ổn định ở mức này.
+ Nhu cầu về thép sẽ tăng sau tết ấm lịch.
+ Lãi suất cơ bản ở mức cao hơn so với năm 2011 sẽ làm tăng chi phí vốn, ảnh hưởng tới giá các sản phẩm thép..
4.Các giai đoạn diễn biến của thị trường Việt Nam năm 2011.
+Qua tết âm lịch thị trường thép sẽ tăng cho đến hết quí 1 và có thể sang tháng đầu tiên quí 2 (tháng 4).Mức tăng có thể vượt qua mức đỉnh của năm 2008.
+Sau giai đoạn này thị trường sẽ có động thái điều chỉnh giảm xuống cho đến tháng 7-8/2011.Tuy nhiên mức giảm sẽ không giảm sâu như năm 2008.Do các yếu tố giá quặng, phế đạt mức ngưỡng dưới, cũng như các nước đã có chính sách rõ ràng hơn về các yếu tố này
+Thị trường tiếp tục đi lên và tăng đến cuối năm 2011.
+Thị trường sẽ diễn biến phức tạp hơn, biến động đột ngột hơn do sự ảnh hưởng một cách trực tiếp hơn từ các yếu tố giá tạo nên sản phẩm sau phôi thép.
Trước mắt thép xây dựng và thép công nghiệp sẽ tăng trong thời gian tới.Mức tăng còn phụ thuộc vào giá phôi, Quí vị cần theo dõi chặt chẽ các thông tin trong thời gian tới để chủ động trong kinh doanh.
Chú ý:Nội dung bài viết được dựa trên các báo cáo thị trường của các cộng tác viên, bộ phận tổng hợp tin tức ...của satthep.net.Các thông tin dự đoán chỉ mang tính tham khảoThứ Ba, 4 tháng 1, 2011
Thủ tướng nêu các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020 - Ảnh: Chinhphu.vn.
11:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 4/1/2011
I. Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế
1. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, giai đoạn 2001 - 2010, chúng ta đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển. Mở rộng dân chủ trong kinh tế với việc ban hành và thực hiện luật doanh nghiệp, phát triển mạnh kinh tế dân doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải cách hành chính mà khâu trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; tham gia sâu rộng vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới; nhờ đó, đã phát huy được tiềm năng và nội lực của đất nước, tranh thủ được nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Trong 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về kết quả đạt được cũng như những bất cập, yếu kém và rút ra những bài học sâu sắc từ thực tiễn.
2. Chúng ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và biến động rất khó lường. Các xu hướng nổi trội là:
(1) Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ; hình thành nền kinh tế tri thức; sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu năng lượng, thân thiện với môi trường; phát triển kinh tế xanh. Đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường toàn cầu, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế trong từng nước cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước. Đón nhận quá trình này một cách tự nhiên hoặc chủ động lựa chọn tuỳ thuộc vào năng lực nội sinh và chính sách của mỗi nước.
(2) Toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu rộng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có tính cạnh tranh cao trở thành thách thức kinh tế lớn nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới.
(3) Vai trò ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi, nhất là sự phát triển mạnh mẽ cuả Ấn Độ và Trung Quốc làm thay đổi cán cân quyền lực kinh tế - chính trị trên thế giới. Với vị thế địa chiến lược trọng yếu, ASEAN hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nước thành viên và khẳng định vai trò chủ đạo trong một cấu trúc khu vực đang định hình. Tuy nhiên, khu vực này cũng là nơi tiềm ẩn những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nước ta cũng như các nước trong khu vực.
Sau khủng hoảng, quá trình phục hồi kinh tế thế giới diễn ra chậm chạp và đầy mâu thuẫn; khủng hoảng nợ công lan rộng và nguy cơ của cuộc chiến tranh tiền tệ chưa phải đã được loại trừ. Trong bối cảnh đó, sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn làm cho độ rủi ro và tính bất định tăng lên.
Song song đó, tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng mà nước ta là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, có thể là biến số lớn trong tiến trình phát triển của đất nước.
Chưa bao giờ bối cảnh quốc tế lại chi phối nhiều đến sự phát triển của nước ta với tất cả những thách thức và cơ hội to lớn như vậy. Chúng ta sẽ phải làm gì và ở vị thế nào trong sự vận động phức tạp này.
Dự thảo Chiến lược xác định các quan điểm làm căn cứ để lựa chọn mục tiêu và đề ra các định hướng phát triển cho giai đoạn 2011 - 2020 phù hợp với tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế, bảo đảm tính thống nhất với mục tiêu dài hạn trong dự thảo Cương lĩnh.
II. Bước tiến mới về tư duy phát triển
1. Về các quan điểm phát triển
Quan điểm phát triển bền vững trong dự thảo Chiến lược lần này mang một nội hàm mới, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nhanh với phát triển bền vững, coi phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; đặt yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng trưởng nhanh, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, đồng thời khắc phục tư tưởng chạy theo tốc độ mà không chú ý đúng mức đến chất lượng tăng trưởng.
Năm 2011, khởi động mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong tiến trình đổi mới 25 năm qua, Đảng ta bắt đầu từ đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, nhằm giải phóng các nguồn lực của đất nước. Điều này là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, khi đổi mới kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, cần thiết phải tiến hành đồng thời đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị để thúc đẩy đổi mới toàn diện. Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng ta về bước đi và biện chứng phát triển của tiến trình đổi mới. Dự thảo Chiến lược nêu “đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”. Trọng tâm của đổi mới chính trị là hoàn thiện nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách nhiệm trong thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp ủy đảng; mở rộng dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội nhằm phát huy vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước, khả năng sáng tạo to lớn của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước.
Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa mà cạnh tranh kinh tế diễn ra rất quyết liệt. Mỗi nước đều tìm cách khai thác tốt nhất các lợi thế so sánh sẵn có, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời, tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới. Tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa kinh tế là những lợi thế so sánh sẵn có, tuy rất quan trọng nhưng không phải là quyết định nhất. Thực tiễn đã khẳng định nguồn lực con người là yếu tố nội sinh năng động, quyết định lợi thế cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện khoa học công nghệ - sản phẩm trí tuệ của con người phát triển nhảy vọt trong thời đại chúng ta.
Hơn nữa, mục tiêu phát triển kinh tế xét đến cùng là vì con người, cho con người. Con người phát triển toàn diện, có đời sống vật chất ấm no, đời sống tinh thần phong phú, có năng lực trí tuệ, phát huy mọi khả năng sáng tạo trong sự nhận thức được cái tất yếu để có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, vươn tới tự do. Dự thảo Chiến lược nêu quan điểm“phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước.
“Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, quan điểm này nhấn mạnh yêu cầu mới, quan trọng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất phải dựa vào trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, phản ánh xu thế khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm “phát triển nhanh hài hoà các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tăng tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết và định hướng nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã...”.
Kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn có các nguồn lực khác do Nhà nước sở hữu gồm ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên, dự trữ quốc gia… Thông qua các chính sách phát triển và cơ chế điều tiết, phân bổ hiệu quả, các nguồn lực này sẽ là nhân tố kích hoạt, định hướng việc thực hiện chính sách cơ cấu và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy, khi nói kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không chỉ nói riêng nguồn lực vật chất mà phải đặt nó trong sự tác động của chính sách, khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và cũng không chỉ nói đến vai trò của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế mà phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Điều đó cũng đòi hỏi phải nhận thức và định vị lại nội dung hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Cùng với việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, dự thảo Chiến lược nhấn mạnh “Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”.
Từ hội nhập kinh tế, các nước đang mở rộng hội nhập sang các lĩnh vực khác như là một tiến trình khách quan. Để tích cực, chủ động và nâng cao hiệu quả của tiến trình hội nhập quốc tế, chúng ta phải “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Nhấn mạnh quan điểm này là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tiềm lực kinh tế của đất nước, lực lượng doanh nghiệp trong nước có mạnh, nền kinh tế mới vững, vị thế trong hội nhập mới cao. Càng hội nhập có hiệu quả, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
2. Về mục tiêu Chiến lược và các khâu đột phá
Dự thảo Chiến lược đề ra mục tiêu tổng quát “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.
Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể nêu trong Dự thảo thể hiện sự thống nhất giữa kinh tế, xã hội với chính trị, quốc phòng, an ninh; gắn kết nhiệm vụ trung hạn với yêu cầu phát triển dài hạn, trở thành “Cương lĩnh thứ hai của Đảng” nhằm triển khai nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thực hiện Cương lĩnh.
Để đạt được mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải chọn đúng các khâu đột phá - những khâu hiện đang là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển mà nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo ra những tiền đề giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Dự thảo lựa chọn ba đột phá:
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Ưu điểm của kinh tế thị trường là phân bổ nguồn lực một cách hợp lý theo tín hiệu thị trường và do đó làm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế. Kinh tế thị trường chỉ có thể được hoàn thiện khi các yếu tố, các loại thị trường được hình thành đồng bộ trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Cạnh tranh là đặc tính vốn có của kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, nâng cao năng suất - yếu tố xét đến cùng quyết định thắng lợi của một phương thức sản xuất, một chế độ xã hội. Kinh tế thị trường luôn được vận hành thông qua các thể chế và thủ tục hành chính. Vì vậy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Mặt khác, kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách cơ cấu hợp lý, sử dụng hiệu quả các công cụ điều tiết nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường.
Hai là, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Con người là chủ thể sản xuất ra mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Con người làm ra thể chế, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược. Đây vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài. Đặt yêu cầu gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung mới, thể hiện tính hướng đích của phát triển nguồn nhân lực. Chỉ với nguồn nhân lực có khả năng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý mới tạo ra năng suất cao để phát triển nhanh và bền vững.
Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Kết cấu hạ tầng là “đường dẫn” cho các yếu tố sản xuất dịch chuyển và là điều kiện để phát triển văn hóa xã hội trên các vùng của đất nước. Sự yếu kém của kết cấu hạ tầng đang là cản trở lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh, không phát huy được tác động hội tụ và lan tỏa của các yếu tố nội sinh, không khai thác được vị trí địa kinh tế nằm trong chuỗi cung toàn cầu của nước ta và là nguy cơ làm gia tăng chênh lệch về mức sống giữa các vùng của đất nước. Trong 10 năm tới, chúng ta phải huy động các nguồn lực để thực hiện khâu đột phá này.
3. Về các định hướng phát triển
Trên cơ sở các quan điểm và mục tiêu tổng quát nêu trên, dự thảo Chiến lược đề ra 12 định hướng phát triển, tạo nên một hệ thống đồng bộ các giải pháp lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại như một chỉnh thể của phát triển bền vững; bảo đảm gắn kết hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Dưới đây, xin phân tích một số nội dung mới.
Có thể nói tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển các lĩnh vực xã hội hài hòa với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là những tư tưởng quan trọng nhất cũng là những nét mới trong tư duy phát triển.
Tái cấu trúc nền kinh tế không phải chỉ được đặt ra khi có khủng hoảng. Quá trình này diễn ra một cách tiệm tiến hoặc nhảy vọt theo sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự dịch chuyển lợi thế cạnh tranh giữa các nước. Nội dung và nhịp độ của tái cấu trúc phụ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, tái cấu trúc nền kinh tế phải diễn ra đồng thời trên các nội dung sau:
(1) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân. Mặt khác, phải hết sức coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân.
(2) Tái cấu trúc các ngành sản xuất và dịch vụ, trọng tâm là phát triển công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất; gắn kết chặt chẽ giữa áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất; giữa sản xuất, chế biến với phân phối trong một chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị đó; giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới.
(3) Tái cấu trúc các doanh nghiệp, tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh kinh tế dân doanh. Song song đó, mỗi doanh nghiệp phải tự tái cấu trúc để thích ứng với sự thay đổi về công nghệ và thị trường nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả.
(4) Coi trọng hơn thị trường trong nước. Phát triển mạnh hệ thống phân phối của các doanh nghiệp nước ta trên thị trường nội địa để có thể làm chủ thị trường này, tạo cơ sở vươn xa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do.
(5) Điều chỉnh cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tư. Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu nhất, đồng thời đẩy mạnh huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch. Hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường.
Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất
Để thực hiện các nội dung tái cấu trúc trên đây, phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và nguồn lao động chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại. Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với nhau và tích hợp tác động, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh. Trong đó, khoa học và công nghệ là động lực quyết định; con người đóng vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, thực hiện chức năng quản lý. Có kỹ năng quản lý hiện đại mới phát huy tối đa tác động của hai nhân tố trên.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt nhưng không thể hành động theo ý muốn mà phải tạo ra các tiền đề và điều kiện cho quá trình chuyển đổi. Những tiền đề và điều kiện đó chính là các đột phá chiến lược. Chính vì vậy, trong thời kỳ chiến lược tới, nhất là trong những năm đầu, phải tập trung giải quyết các khâu đột phá, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu, theo hướng chuyển mạnh sang chiều sâu.
Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là công việc đòi hỏi sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của cộng đồng doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò mở đường và hỗ trợ còn doanh nghiệp là chủ thể, lực lượng chủ công của tiến trình này.
Văn hóa xã hội là lĩnh vực rộng lớn có nhiều nội dung gắn kết tương tác lẫn nhau, tác động mạnh đến kinh tế và mọi mặt của đời sống, đến từng con người và cả cộng đồng. Văn hóa hình thành nên hệ giá trị của một quốc gia, tạo ra bản sắc của một dân tộc, là yếu tố quan trọng trong tư duy phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”. Dự thảo Chiến lược xác định “phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa xã hội hài hòa với phát triển kinh tế..., xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển”, đặt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là một điểm nhấn của dự thảo Chiến lược, góp phần khắc phục những bất cập, yếu kém, tạo bước phát triển mới trên các lĩnh vực văn hoá, xã hội.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân, đã có những văn bản quy định về một số chính sách cụ thể. Dự thảo Chiến lược lần này đã đề cập một hệ thống các quan điểm và chính sách tương đối đồng bộ và toàn diện làm cơ sở cho việc phát triển một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội hiệu quả, bền vững.
Thể hiện nhận thức đầy đủ hơn về nguy cơ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với sự phát triển bền vững, dự thảo Chiến lược trình bày phương hướng cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể về bảo vệ và cải thiện môi trường, nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, địa phương, trong từng dự án; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và phát triển các dịch vụ môi trường. Chủ động triển khai chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.
4. Về nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước
Để thực hiện thắng lợi Chiến lược với những nội dung chủ yếu nêu trên, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Dự thảo Chiến lược đã thể hiện nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa ba thành tố của cơ chế này trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ, Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Trong cơ chế đó, nhân dân ủy nhiệm cho Nhà nước thực hiện quyền lực quản lý với chức năng cơ bản là tạo môi trường cho sự phát triển và phục vụ sự phát triển. Phải đặt yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dự thảo xác định các chức năng quản lý và kiến tạo phát triển của Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đề ra các giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước; nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Cùng với việc hoàn thiện các thiết chế thực hiện dân chủ, tăng cường dân chủ trực tiếp, Dự thảo đề cao vai trò phản biện xã hội, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước các cấp. Thông qua phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình mà góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý.
III. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong năm đầu thực hiện Chiến lược
Những quan điểm và định hướng của Chiến lược 2011 - 2020 phải được thể hiện ngay trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Chính phủ đã báo cáo và Quốc hội đã thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm 2011. Nghị quyết đã nêu toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp lớn.
Sau đây là những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011.
1. Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
Chúng ta thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 trong bối cảnh kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng chậm hơn, giá cả hàng hóa tăng cao hơn năm 2010, khủng hoảng nợ công trong khu vực đồng Euro có nguy cơ lan rộng, đồng Đô la Mỹ - đồng tiền chủ yếu trong thanh toán quốc tế bị giảm giá, giá vàng tăng, làm thay đổi các kênh đầu tư, gây biến động lớn thị trường tài chính quốc tế.
Ở trong nước, năm 2010 kinh tế phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (6,78%), xuất khẩu tăng nhanh (25,5%), nhập siêu chỉ còn bằng 17,3% kim ngạch xuất khẩu, thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể giảm mạnh. Tuy nhiên, lạm phát và lãi suất tăng cao, tỷ giá biến động, gây sức ép đến ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh khó khăn và đe doạ tăng trưởng bền vững. Trước tình hình đó, năm 2011 phải tập trung sức để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm.
Phải giảm bớt chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư; kiên quyết cắt giảm các công trình chưa thực sự cần thiết, tập trung nguồn lực cho các dự án tạo ra năng lực sản xuất và năng lực xuất khẩu mới, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu, sớm đưa vào sử dụng; giảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại, kiềm chế tốc độ tăng giá.
Thực tiễn những năm qua, cho thấy, chính sách vĩ mô phải chuyển những thông điệp rõ ràng nhằm tạo niềm tin cho thị trường và định hướng cho sản xuất kinh doanh. Phải theo sát sự vận động của kinh tế thế giới và trong nước; nâng cao năng lực dự báo, chủ động, nhạy bén trong phản ứng chính sách; linh hoạt sử dụng phù hợp các công cụ của chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính khi không thực sự cần thiết; nâng cao hiệu quả bình ổn và điều hòa nguồn vốn giữa các tổ chức tín dụng của thị trường liên ngân hàng; kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, bảo đảm kinh doanh trung thực, tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn.
2. Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Tập trung hoàn thiện thể chế, tạo lập thị trường đất đai lành mạnh trên nguyên tắc đất đai là công thổ quốc gia và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân. Nhà nước và người giao lại quyền sử dụng đất phải là những đối tượng được hưởng lợi chủ yếu từ việc chuyển giao quyền sử dụng đất. Đây là nguyên tắc cơ bản để hình thành chính sách và thị trường đất đai.
Đẩy nhanh tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước tuy là một nội dung của tái cấu trúc doanh nghiệp nhưng lại là điều kiện để tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế - một tiêu chí của kinh tế thị trường. Phương hướng và nội dung chủ yếu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước là đẩy mạnh cổ phần hoá và cải cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, phải chuyển từ hoạt động đa dạng sang chuyên môn hoá nhằm thực hiện chính sách cơ cấu; đẩy mạnh đổi mới và sáng tạo, nâng cao hiệu quả và tạo lập năng lực cạnh tranh dài hạn để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều quan trọng là phải đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh và quy định các chỉ tiêu chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Cải cách cơ chế và tổ chức nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc và công khai kết quả kiểm toán.
Năm 2011, phải triển khai mạnh mẽ chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, coi đây là một nội dung trọng tâm của tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp. Khẩn trương hoàn chỉnh cơ chế, chính sách phát triển và tổ chức quản lý công nghiệp hỗ trợ. Tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp chế tạo với doanh nghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn và phát triển công nghiệp hỗ trợ theo cụm nhóm sản phẩm trên cơ sở thị trường có sự định hướng của Nhà nước, tập trung vào một số sản phẩm cơ khí, thiết bị điện, điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin... Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả rộng như dịch vụ du lịch, dịch vụ phân phối, vận tải, dịch vụ logistics và các dịch vụ cảng biển, nhằm tận dụng vị thế địa kinh tế của nước ta trong chuỗi cung toàn cầu. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm thúc đẩy dịch vụ tài chính và kinh doanh bất động sản phát triển lành mạnh. Triển khai chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam thành nước mạnh về công nghệ thông tin.
Nhận thức đầy đủ hơn vai trò quan trọng có tính chiến lược của nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, triển khai mạnh mẽ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn, đầu tư phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh. Tăng cường công tác kiểm tra theo các tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh thực phẩm từ sản xuất, chế biến, lưu thông đến tiêu dùng. Đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo quản, dự trữ để giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng hàng hóa, điều hoà cung cầu, ổn định giá cả.
Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường
3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường, tập trung vào các nhiệm vụ sau đây:
Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư để huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; mở rộng các hình thức đầu tư theo cơ chế BOT, BT, khẩn trương ban hành quy định về hợp tác công - tư (PPP) để phát triển hệ thống giao thông, nhất là các công trình lớn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, xác lập quyền sử dụng đất, thủ tục hải quan, thuế, nhằm giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.
Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Hướng mạnh hoạt động của Ngân hàng phát triển vào việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng nguồn kinh phí bảo lãnh tín dụng và năng lực thẩm định dự án được bảo lãnh của Ngân hàng này. Ưu tiên nguồn tín dụng cho các sản phẩm trọng điểm. Nghiên cứu việc phân bổ hạn mức tín dụng cho các khu vực doanh nghiệp theo mức đóng góp vào GDP và kim ngạch xuất khẩu.
Phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nước ngoài, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra chất lượng các mặt hàng nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng và khuyến khích sản xuất trong nước. Coi trọng hơn thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn. Đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam.
4. Phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc
Xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020, Chương trình giảm nghèo bền vững và chương trình việc làm giai đoạn 2011 - 2015; phấn đấu để năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% theo chuẩn mới; phát triển các loại hình bảo hiểm, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội.
Hoàn thiện chính sách khám chữa bệnh, chính sách viện phí. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bệnh viện từ nguồn vốn Nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng bệnh viện; tăng cường đưa bác sỹ về các bệnh viện tuyến huyện và các xã, bảo đảm sự đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đội ngũ thầy thuốc sử dụng các trang thiết bị, cải thiện chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục; tiếp tục thực hiện các đề án về giáo dục đào tạo đã được phê duyệt; coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông trên cả hai nội dung dạy chữ và rèn luyện nhân cách, dạy làm người. Trên cơ sở bảo đảm đội ngũ giáo viên, điều kiện dạy và học để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng; triển khai xây dựng một số trường đại học chất lượng cao theo chương trình hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế. Phát triển mạnh đào tạo nghề với số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu thị trường, chú trọng đào tạo nghề cho công nghiệp hỗ trợ. Phát triển nhanh thị trường công nghệ. Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, hướng mạnh vào xây dựng văn hóa trong ứng xử, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, làm cho văn hóa thấm sâu vào hành vi và nếp sống của mỗi người Việt Nam.
Làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân và doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật. Triển khai Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, các chương trình nâng cấp đê biển, đê sông, các giải pháp chống ngập úng cho các thành phố lớn; ứng phó có hiệu quả với thiên tai bão lũ.
Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện có hiệu quả các chương trình phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
5. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý trên nguyên tắc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thúc đẩy hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường. Rà soát lại hệ thống phân cấp, bảo đảm tăng cường sự quản lý thống nhất của trung ương về quy hoạch phát triển, khai thác tối đa lợi thế so sánh theo tầm nhìn liên vùng nhằm tiết kiệm nguồn lực và bảo đảm quy mô kinh tế; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của địa phương, cơ sở. Chuẩn bị tốt việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân và kiện toàn chính quyền các cấp nhiệm kỳ mới theo yêu cầu xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực hiệu quả; lấy phục vụ nhân dân làm chức năng chủ yếu của chính quyền các cấp.
Cùng với những nhiệm vụ nêu trên, chúng ta phải luôn coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Chính phủ và các bộ ngành, địa phương phải dành sự quan tâm chỉ đạo tốt công tác chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Tân Mão, thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm nguồn hàng, kiểm soát giá cả, giữ vững an ninh trật tự xã hội, bảo đảm an toàn giao thông; chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách để mọi người dân đều được đón Tết vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm.
***
Thời gian vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã sôi nổi đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng Đại hội sẽ đề ra một Chiến lược đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Tổ chức thực hiện tốt Chiến lược mà trước hết là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2011 là việc làm thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đi vào cuộc sống và thực hiện điều căn dặn của Bác Hồ kính yêu trước khi Người đi xa là “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
