Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Tổng quan thị trường thép 2010.Dự báo thị trường thép 2011 (17/01/2011)


I, Thị trường toàn cảnh năm 2010

Trong 3 tháng của quí I và trải dài đến đầu tháng 4/2010, kinh tế thế giới có những chuyển biến thuận lợi, nhu cầu thép thế giới cũng như trong nước trên đà hồi phục.Sản lượng thép tiêu thụ trong nước bao gồm thép xây dựng và thép công nghiệp tăng lên đột biến, đặc biệt là thép xây dựng, tăng gấp hơn 3 lần so với tháng 12/2009.

Quý I năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi mạnh nhờ việc tiếp tục các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ,, tạo điều kiện cho các nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng, nhu cầu sử dụng thép và nguyên liệu thép thế giới tiếp tục tăng mạnh ( Giá quặng sắt trong các hợp đồng vào thời điểm đầu năm 2010 dự kiến tăng 10 – 25 % so với năm 2009, giá than cốc được ấn định ở mức 300 USD/tấn) trong những tháng đầu năm 2010

bieudophoi.gif

Biểu đồ giá phôi 2010

-Đường màu xanh là giá trung bình nhập khẩu phôi của các DN trong nước

-Đường màu nâu đỏ là giá chào phôi tại các thời điểm trong nước

Nhìn vào biểu đồ cho thấy độ trễ của việc nhập phôi

+ Tháng 1-tháng 5 giá phôi chào tăng vọt lên 670 nhưng giá phôi nhập về vẫn là 516 usd/tấn lúc này các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng được lợi khi giá được điều chỉnh theo giá phôi mới( xem biểu đò thép xay dựng tháng 4-5)

+Tháng5- tháng8.Lúc này giá phôi chào hạ nhanh xuống dưới 500 usd/tấn nhưng mức phôi nhập về vẫn ở mức trung bình 600 usd/tấn.Lúc này chắc chắn Doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng chịu lỗ do giá thép xây dựng giảm sâu.

+ Tháng 8-12 Giá chào cũng thay đổi ít hơn so với giá mua phôi.Giá thép cũng đã được điều chỉnh tăng.Tuy nhiên tỷ giá tăng mạnh làm lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất cũng giảm rất nhiều.

Nhìn chung trong năm 2010 có thể tóm lược diễn ra các giai đoạn như sau:

+Thị trường thép tăng liên tục cho đến hết quí 1 và lên tới đỉnh vào cuối tháng 3 đầu tháng 4.

+Qua tuần thứ 2 của tháng 4 thị trường giảm liên tục đến cuối tháng điều này cũng tương ứng với giá chào phôi giảm.

+Đầu tháng 7 thị trường tiếp tục đi lên và tăng đến cuối năm 2010.

II,Thép xây dựng

Trong những tháng đầu năm 2010 sản xuất và tiêu thụ thép tục duy trì ở mức khá cao do nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng.Tháng 01/2009: sản xuất thép ước đạt 370.000 tấn, lượng tiêu thụ ước đạt 300.000 tấn, tăng 65% so với cùng kỳ năm 2009.Tháng 02 sản xuất thép ước đạt 250.000 tấn lượng thép tiêu thụ ước đạt 230.000.Lượng thép sản xuất trong tháng 3-4 ước đạt 400.000 -425.000 tấn mỗi tháng tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm ngoái, kèm theo đó lượng thép tiêu thụ cũng tăng lên đáng kể trong 02 tháng này.Lượng thép tiêu thụ tháng 3 ước đạt 450.000 tấn, tuy nhiên tháng 4 lại giảm còng khoảng 320.000-350.000 tấn, ước lượng thép tiêu thụ 4 tháng đầu năm đạt 1,54 – 1,57 triệu tấn, tăng trên 35% so với cùng kỳ năm 2009.

bieudothepxd.gif

Biểu đồ giá thép xây dựng trong năm 2010.

-Màu xanh thể hiện thép cuộn trơn

-màu đỏ thể hiện thép thanh vằn 295A (satthep.net)

Trong năm 2010, theo biểu đồ giá thép xây dựng, ngay đầu tháng 4 giá thép xây dựng đã bắt đầu đi xuống, và kéo dài đến giữa tháng 06.Tuy trong tháng 4 giảm nhưng lượng tiêu thụ tuy giảm nhưng vẫn còn ở mức cao.Từ tháng 4 đến tháng 6 giá phôi giảm mạnh vì vậy giá thép giảm sâu xuống còn 12,800 vnd/kg.Tuy nhiên sau đó giá chào phôi đã tăng lên gần như liên tục và tỷ giá đã điều chỉnh tăng, lãi suất ngân hàng khiến giá thép xây dựng tăng theo chiều thẳng đứng lên tới giá 16.200 vnd/kg.Tuy nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp thép cũng không tăng mạnh theo giá do chi phí đầu vào tăng cao.

Thị trường thép xây dựng còn có sự cạnh tranh trực tiếp của thép xây dựng nhập khẩu.Trong năm 2010 thép nhập khẩu liên tục theo sát và bám đuổi thép sản xuất trong nước về giá cả và số lượng.Giá luôn bám sát và thấp hơn giá thép xây dựng trong nước từ 500-1000 vnd/kg tuỳ theo thời điểm.Số lượng cũng đang tăng lên do chất lượng, do giá cả được các nhà thầu trong nước chấp nhận ngày càng nhiều hơn.Đây cũng là một sự cạnh tranh ngày càng gay gắt cho thép xây dựng trong nước trong năm 2011

III,Thép công nghiệp(Thép cán nóng, cán nguội, mạ kẽm....)

Kết thúc năm dương lịch 2009 mức giá thép nằm ở mức 9,350VN/kg và ngay tuần thứ 2 của năm 2010 thị trường thép đã có mức tăng giá mạnh mẽ.Nền kinh tế Việt Nam lúc đó đang ở trong giai đoạn hồi phục mạnh mẽ và lạc quan.Gói hỗ trợ lãi suất 4% đã được triển khai và đến lúc phát huy hiệu quả

bieudothepcn.gif

Biểu đồ giá thép công nghiệp các tuần trong năm 2010.

-Màu xanh thể hiện thép cuộn cán nóng chính phẩm,

-Màu đỏ thể hiện thép hình chính phẩm nhập khẩu H,I, U, V (satthep.net)


Giá thép liên tục tăng trưởng nóng từ 9,350 vnd/kg đến giá 13,050 vnd/kg từ tuần thứ 1 (01/01/2010) đến tuần thứ 17(30/4/2010) của năm 2010. Tăng 3,700 vnd/kg và khoảng gần 30% so với mức giá đầu năm.

Trong giai đoạn này, đặc biệt là phôi thép có sự tăng giá mạnh mẽ từ 500 usd/tấn cho tháng 1-2 và tăng lên đến 610 usd/tấn vào cuối tháng 3.Bước qua, đầu và giữa tháng 4 mức chào giá phôi đã đạt đến mức 670 usd/tấn tăng 70 usd/tấn.Việc tăng này làm tăng các sản phẩm thép công nghiệp thế giới và đã thúc đẩy việc tăng giá các sản phẩm thép công nghiệp trong nước và việc tăng giá gần 30% là điều không tránh khỏi.

Ngay từ đầu năm 2010 gói hỗ trợ lãi suất đã bắt đầu giảm còn 2% và chấm dứt ngừng hỗ trợ vào quí 1/2010.Tuy nhiên, tác dụng của nó trong việc kích thích nền kinh doanh sản xuất vẫn còn và làm kéo dài việc tăng giá cho đến hết tháng 4.

Có lẽ mức đỉnh của mọi thứ nằm trong tháng 4, giá phôi sau khi chào đạt ở mức đỉnh đã đứng lại trong nửa cuối tháng 4 và đã không duy trì được để cuối cùng giảm xuống mức chào 660 usd, bắt đầu cho việc giảm giá.

Nửa cuối tháng 4 rất nhiều động tác kỹ thuật được các nhà máy, công ty thương mại đưa ra nhằm ổn định tình hình như: Tuyên bố tăng giá vào tháng tới, dự báo tình hình giá tăng, công bố duy trì giá xuất xưởng trong tháng tới........tuy nhiên cũng không chặn được đà tăng giá của thị trường thế giới

Thị trường phôi thép thế giới giảm giá kéo dài cho đến giữa tháng 06 đạt mức chào 495 usd/tấn và tăng trở lại ở mức 530 usd/tấn vào cuối tháng 06.Trong tháng 7 không có sự chuyển biến nào đáng kể về chào phôi.Sự tăng trở lại của giá chào phôi thép được hỗ trợ bởi giá các nguyên liệu đầu vào phế, quặng cùng tăng, các nhà máy đã giảm lượng hàng tồn sau kỳ bảo dưỡng máy móc, cũng như các tín hiệu khả quan từ các nhu cầu trên thế giới.

Giá thép trong nước cũng đạt mức đỉnh trong tuần cuối của tháng 4 và bắt đầu tháng 5/2010 giá thép công nghiệp bắt đầu giảm từ tuần 18 cho đến tuần thứ 26 (cuối tháng 6/2010).Như vậy, trong 2 tháng giá thép đã giảm từ 13.050 xuống còn 11.650 vnd/kg, mức giảm khoản 1400 vnd/kg.Sau đó trong 4 tuần tiếp theo giá thép tiếp tục duy trì ở mức 11.800 vnd/kg.

Nguyên nhân của việc giảm này cho, giá phôi chào của thế giới giảm, cộng với việc tăng giá quá nóng của ngành thép dẫn đến nhu cầu giảm, các doanh nghiệp đã không vay được gói hỗ trợ lãi suất .Tất cả nhưng điều trên làm cho nhu cầu trong nước giảm thấp và các doanh nghiệp buộc phải giảm giá bán để trả nợ ngân hàng.Trong giai đoạn này thị trường đang ở giai đoạn hết sức trầm lắng và đầy nguy cơ lo lắng về tình trạng tiêu thụ.

Bắt đầu từ tháng 8, với sự tăng trở lại của phôi thép, thị trường thép công nghiệp trong nước bắt đầu bắt nhịp tăng của thế giới.Giá các nguyên liệu thô(quặng, phế, than đá....) do các công ty tăng giá, các chính phủ tăng thuế xuất khẩu nhằm chặn dòng tài nguyên thép thô chảy ra nước ngoài, từ cuối tháng 6 đã tăng hỗ trợ cho việc tăng giá các sản phẩm thép công nghiệp và thép phô tuy rất chậm.Thị trường thép Trung Quốc lúc đó tuy còn rất ảm đạm, do chính sách kềm hãm bất động sản, phát triển kinh tế..... nhưng cũng đã xuất hiện nhưng tín hiệu cho thấy sự tăng giá trở lại.Trung Quốc cũng không thể nằm ngoài quy luật khi họ là nuớc sản xuất thép lớn nhất thế giới nhưng cũng là nước nhập khẩu lớn nhất.Trung Quốc rõ ràng phải chịu sự chi phối về giá các nguyên liệu thô.Đây là giai đoạn giằng co của Trung Quốc và các nhà cung cấp nguyên liệu thô về giá cả.Giá chào phôi về Việt Nam tăng mạnh mẽ trong tháng 8 và đạt 610 usd/tấn.Ngay lập tức thị trường trong nước đã phản ứng tăng 900 vnd/kg trong vòng 1 tháng đạt 12.700 vnd/kg vào tuần cuối của tháng 8.

Sau mức tăng ngoạn mục của tháng 8, sự tăng giá phôi đã ngừng và trong tháng 9 đã chào giảm xuống còn 590usd/tấn giảm 30 usd so với cuối tháng 8 và tiếp tục giảm 30 usd còn lại 560 usd/tấn vào giữa tháng 10.Thị trường trong nước cũng đã có sự điều chỉnh giảm giá nhẹ từ 12.800 vndkg ở đầu tháng 9 và kéo dài giảm đến giữa tháng 10 xuống còn 12.400 vnd/kg.Sự giảm này cho thấy sau khi đã tăng giá quá nhanh thì cần phải có thơi gian để thị trường chấp nhận.Tuy nhiên cộng với nhu cầu yếu trải dài trong quí 3 đã làm thị trường giảm lại một ít.

Vào giữa tháng 10 giá chào phôi bật trở lại và kéo dài cho đến hết tháng 12.Giá phôi tại thời điểm viết bài đã chào đến mức 630 usd.tấn.Thị trường trong nước cũng đã tăng theo giá phôi.Tăng từ giá 12.400 giữa tháng 10 để đạt đến mức giá 14.3 vào tuần thứ 3 của tháng 12/2010.

Trong giai đoạn này, ngoài giá phôi chào tăng có lẽ nguyên nhân chủ yếu và quan trọng nhất trong việc tăng giá thị trường thép chính là sự yếu đi của đồng tiền Việt Nam so với đồng USD.Tỷ giá VND/USD liên tục điều chỉnh tăng trên thị trường tự do từ mức 19.600 vnd/usd lên đến mức 21.700 vnd/usd và hiện tại dao động xung quanh 21.000 vnd/kg.Tỷ giá tăng làm cho giá thành thép trên /kg tăng lên .Ngoài thị trường đã điều chỉnh tăng giá tuy nhiên mức tăng không theo kịp với thiệt hại do tỷ giá mang lại.Các doanh nghiệp thép vẫn chịu thiệt hại to lớn.Thị trường quá ảm đạm khiến cho sự tăng giá không được hỗ trợ.Lãi suất tăng vọt vào những tháng cuối năm khiến cho chi phí lên giá thành càng tăng.Lãi suất còn làm cho nhu cầu vốn đã yếu ớt lại càng giảm hơn nữa.

Nhìn chung lại năm 2010 là một năm đầy khó khăn của ngành thép.Ngoại trừ 4 tháng đầu năm nhu cầu, giá cả có vẻ khởi sắc hơn một chút.Những tháng về sau thị trường nhu cầu thép công nghiệp luôn luôn ảm đạm.Hoạt động thị trường tồn tại ở mức rất thấp.Các hoạt động thương mại diễn ra sự mua bán thép giữa các doanh nghiệp là chủ yếu.

Đã có nhưng giai đoạn các doanh nghiệp đánh giá là mức đáy của thị trường, nên tập trung nhập hàng HRC mỏng <3mm>

Trong những tuần cuối năm 2010, thị trường thép nóng lên với các thông tin về tái xuất, các thông về giá chào phôi tăng lên hàng tuần.Các giá chào quốc tế về Việt Nam liên tục được điều chỉnh và đạt các đỉnh mới.Điều đó khiến cho giá thị trường thép trong nước cũng nóng lên và được điều chỉnh tăng.Tuy nhiên, mức tăng không theo kịp với mức tăng của thế giới.Thị trường đang chào đón sự tăng trưởng cuối năm của ngành thép và sự tăng giá sau tết âm lịch

Một năm qua đi cũng còn đó nhiều mối lo về sự bất ổn của tỷ giá, lãi suất ngân hàng cao và đối diện với nhu cầu thấp.Các doanh nghiệp thép bước vào năm 2011 với những sự dè dặt nhất định.

IV.Đánh giá và Dự báo năm Quí I/2011:

1.Qua biểu đồ phôi, thép xây dựng và thép công nghiệp cho chúng ta thấy sự liên quan chặt chẽ giữa các yếu tố này.Thép xây dựng, thép công nghiệp là các sản phẩm sau phôi chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố giá phôi nên biểu đồ gần như có sự thay đổi thuận chiều.

2.Các yếu tố ảnh hưởng đến giá phôi:

-Giá phế liệu từ các thị trường cung cấp phế liệu: Giá phế liệu được quyết định bởi các yếu tố như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, điều kiện thời tiết để khai thác, vận chuyển phế liệu.

-Giá quặng từ khoảng 5 nước cung cấp quặng chủ yếu trên thị trường thông qua các công ty cũng cấp quặng thế giới như BHP,Vale, ...Giá cũng được quyết định bởi các yếu tố như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, điều kiện thời tiết để khai thác, vận chuyển phế liệu.

-Trong năm 2010 chính phủ các nước có nguồn quặng, phế đã sử dụng các chính sách (nâng thuế xuất khẩu, cấm xuất khẩu...) nhằm hạn chế sự di chuyển của loại tài nguyên này ra nước ngoài(hoặc kiếm thêm lợi nhuận).Điều này làm nguồn cung cho nguyên liệu đầu vào của phôi ngày càng trở nên khan hiếm hơn cũng như đẩy giá lên cao hơn.

-Chính sách bán hàng của các công ty cung cấp quặng đã thay đổi từ giá bán theo năm thành giá bán theo quý và hiện đang muốn áp dụng giá bán theo tháng.Điều này sẽ làm sự liên thông giữa các yếu tố quặng-phôi-sản phẩm sau phôi trở nên directly(trực tiếp) hơn bao giờ hết.

-Các chi phí đầu vào như giá dầu diesel, giá than cũng làm tăng giá thành phôi.Đặc biệt trong thời gian vừa qua lũ lụt ở Úc đã làm việc khai thác, vận chuyển than trở nên khó khăn hơn... điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất.

3.Trong năm 2011 các yếu tố trên sẽ ảnh hưởng ngày càng sâu sắc hơn đến các sản phẩm sau phôi, vì vậy người kinh doanh thép cần theo dõi chặt chẽ để chủ động hơn trong kinh doanh.

Giá cả nhiều loại hàng hoá trên thị trường sẽ chịu tác động của một số yếu tố:

+ Giá phôi sẽ diễn biến tăng cao làm giá chào các sản phẩm thép HR,CR tăng cao

+ Các nhà máy tuyên bố tăng giá trong tháng 2-3

+ Tỷ giá sẽ ổn định trong quí 1.Lãi suất cũng sẽ ổn định ở mức này.

+ Nhu cầu về thép sẽ tăng sau tết ấm lịch.

+ Lãi suất cơ bản ở mức cao hơn so với năm 2011 sẽ làm tăng chi phí vốn, ảnh hưởng tới giá các sản phẩm thép..

4.Các giai đoạn diễn biến của thị trường Việt Nam năm 2011.

+Qua tết âm lịch thị trường thép sẽ tăng cho đến hết quí 1 và có thể sang tháng đầu tiên quí 2 (tháng 4).Mức tăng có thể vượt qua mức đỉnh của năm 2008.

+Sau giai đoạn này thị trường sẽ có động thái điều chỉnh giảm xuống cho đến tháng 7-8/2011.Tuy nhiên mức giảm sẽ không giảm sâu như năm 2008.Do các yếu tố giá quặng, phế đạt mức ngưỡng dưới, cũng như các nước đã có chính sách rõ ràng hơn về các yếu tố này

+Thị trường tiếp tục đi lên và tăng đến cuối năm 2011.

+Thị trường sẽ diễn biến phức tạp hơn, biến động đột ngột hơn do sự ảnh hưởng một cách trực tiếp hơn từ các yếu tố giá tạo nên sản phẩm sau phôi thép.

Trước mắt thép xây dựng và thép công nghiệp sẽ tăng trong thời gian tới.Mức tăng còn phụ thuộc vào giá phôi, Quí vị cần theo dõi chặt chẽ các thông tin trong thời gian tới để chủ động trong kinh doanh.

Chú ý:Nội dung bài viết được dựa trên các báo cáo thị trường của các cộng tác viên, bộ phận tổng hợp tin tức ...của satthep.net.Các thông tin dự đoán chỉ mang tính tham khảo

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Thủ tướng nêu các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011

picture

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020 - Ảnh: Chinhphu.vn.

NGUYỄN TẤN DŨNG
11:59 (GMT+7) - Thứ Ba, 4/1/2011

Bước sang năm 2011, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết với tựa đề "Nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011". VnEconomy xin giới thiệu toàn văn bài viết này.

I. Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế

1. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, giai đoạn 2001 - 2010, chúng ta đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển. Mở rộng dân chủ trong kinh tế với việc ban hành và thực hiện luật doanh nghiệp, phát triển mạnh kinh tế dân doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải cách hành chính mà khâu trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; tham gia sâu rộng vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới; nhờ đó, đã phát huy được tiềm năng và nội lực của đất nước, tranh thủ được nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về kết quả đạt được cũng như những bất cập, yếu kém và rút ra những bài học sâu sắc từ thực tiễn.

2. Chúng ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và biến động rất khó lường. Các xu hướng nổi trội là:

(1) Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ; hình thành nền kinh tế tri thức; sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu năng lượng, thân thiện với môi trường; phát triển kinh tế xanh. Đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường toàn cầu, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế trong từng nước cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước. Đón nhận quá trình này một cách tự nhiên hoặc chủ động lựa chọn tuỳ thuộc vào năng lực nội sinh và chính sách của mỗi nước.

(2) Toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu rộng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có tính cạnh tranh cao trở thành thách thức kinh tế lớn nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới.

(3) Vai trò ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi, nhất là sự phát triển mạnh mẽ cuả Ấn Độ và Trung Quốc làm thay đổi cán cân quyền lực kinh tế - chính trị trên thế giới. Với vị thế địa chiến lược trọng yếu, ASEAN hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nước thành viên và khẳng định vai trò chủ đạo trong một cấu trúc khu vực đang định hình. Tuy nhiên, khu vực này cũng là nơi tiềm ẩn những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nước ta cũng như các nước trong khu vực.

Sau khủng hoảng, quá trình phục hồi kinh tế thế giới diễn ra chậm chạp và đầy mâu thuẫn; khủng hoảng nợ công lan rộng và nguy cơ của cuộc chiến tranh tiền tệ chưa phải đã được loại trừ. Trong bối cảnh đó, sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn làm cho độ rủi ro và tính bất định tăng lên.

Song song đó, tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng mà nước ta là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, có thể là biến số lớn trong tiến trình phát triển của đất nước.

Chưa bao giờ bối cảnh quốc tế lại chi phối nhiều đến sự phát triển của nước ta với tất cả những thách thức và cơ hội to lớn như vậy. Chúng ta sẽ phải làm gì và ở vị thế nào trong sự vận động phức tạp này.

Dự thảo Chiến lược xác định các quan điểm làm căn cứ để lựa chọn mục tiêu và đề ra các định hướng phát triển cho giai đoạn 2011 - 2020 phù hợp với tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế, bảo đảm tính thống nhất với mục tiêu dài hạn trong dự thảo Cương lĩnh.

II. Bước tiến mới về tư duy phát triển

1. Về các quan điểm phát triển

Quan điểm phát triển bền vững trong dự thảo Chiến lược lần này mang một nội hàm mới, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nhanh với phát triển bền vững, coi phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; đặt yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng trưởng nhanh, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, đồng thời khắc phục tư tưởng chạy theo tốc độ mà không chú ý đúng mức đến chất lượng tăng trưởng.

Năm 2011, khởi động mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Trong tiến trình đổi mới 25 năm qua, Đảng ta bắt đầu từ đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, nhằm giải phóng các nguồn lực của đất nước. Điều này là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, khi đổi mới kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, cần thiết phải tiến hành đồng thời đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị để thúc đẩy đổi mới toàn diện. Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng ta về bước đi và biện chứng phát triển của tiến trình đổi mới. Dự thảo Chiến lược nêu “đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”. Trọng tâm của đổi mới chính trị là hoàn thiện nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách nhiệm trong thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp ủy đảng; mở rộng dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội nhằm phát huy vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước, khả năng sáng tạo to lớn của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa mà cạnh tranh kinh tế diễn ra rất quyết liệt. Mỗi nước đều tìm cách khai thác tốt nhất các lợi thế so sánh sẵn có, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời, tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới. Tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa kinh tế là những lợi thế so sánh sẵn có, tuy rất quan trọng nhưng không phải là quyết định nhất. Thực tiễn đã khẳng định nguồn lực con người là yếu tố nội sinh năng động, quyết định lợi thế cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện khoa học công nghệ - sản phẩm trí tuệ của con người phát triển nhảy vọt trong thời đại chúng ta.

Hơn nữa, mục tiêu phát triển kinh tế xét đến cùng là vì con người, cho con người. Con người phát triển toàn diện, có đời sống vật chất ấm no, đời sống tinh thần phong phú, có năng lực trí tuệ, phát huy mọi khả năng sáng tạo trong sự nhận thức được cái tất yếu để có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, vươn tới tự do. Dự thảo Chiến lược nêu quan điểm“phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước.

“Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, quan điểm này nhấn mạnh yêu cầu mới, quan trọng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất phải dựa vào trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, phản ánh xu thế khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm “phát triển nhanh hài hoà các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tăng tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết và định hướng nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã...”.

Kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn có các nguồn lực khác do Nhà nước sở hữu gồm ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên, dự trữ quốc gia… Thông qua các chính sách phát triển và cơ chế điều tiết, phân bổ hiệu quả, các nguồn lực này sẽ là nhân tố kích hoạt, định hướng việc thực hiện chính sách cơ cấu và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy, khi nói kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không chỉ nói riêng nguồn lực vật chất mà phải đặt nó trong sự tác động của chính sách, khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và cũng không chỉ nói đến vai trò của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế mà phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Điều đó cũng đòi hỏi phải nhận thức và định vị lại nội dung hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước.

Cùng với việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, dự thảo Chiến lược nhấn mạnh “Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”.

Từ hội nhập kinh tế, các nước đang mở rộng hội nhập sang các lĩnh vực khác như là một tiến trình khách quan. Để tích cực, chủ động và nâng cao hiệu quả của tiến trình hội nhập quốc tế, chúng ta phải “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Nhấn mạnh quan điểm này là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tiềm lực kinh tế của đất nước, lực lượng doanh nghiệp trong nước có mạnh, nền kinh tế mới vững, vị thế trong hội nhập mới cao. Càng hội nhập có hiệu quả, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

2. Về mục tiêu Chiến lược và các khâu đột phá

Dự thảo Chiến lược đề ra mục tiêu tổng quát “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.

Lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể nêu trong Dự thảo thể hiện sự thống nhất giữa kinh tế, xã hội với chính trị, quốc phòng, an ninh; gắn kết nhiệm vụ trung hạn với yêu cầu phát triển dài hạn, trở thành “Cương lĩnh thứ hai của Đảng” nhằm triển khai nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thực hiện Cương lĩnh.

Để đạt được mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải chọn đúng các khâu đột phá - những khâu hiện đang là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển mà nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo ra những tiền đề giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Dự thảo lựa chọn ba đột phá:

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Ưu điểm của kinh tế thị trường là phân bổ nguồn lực một cách hợp lý theo tín hiệu thị trường và do đó làm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế. Kinh tế thị trường chỉ có thể được hoàn thiện khi các yếu tố, các loại thị trường được hình thành đồng bộ trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Cạnh tranh là đặc tính vốn có của kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, nâng cao năng suất - yếu tố xét đến cùng quyết định thắng lợi của một phương thức sản xuất, một chế độ xã hội. Kinh tế thị trường luôn được vận hành thông qua các thể chế và thủ tục hành chính. Vì vậy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Mặt khác, kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách cơ cấu hợp lý, sử dụng hiệu quả các công cụ điều tiết nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường.

Hai là, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Con người là chủ thể sản xuất ra mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Con người làm ra thể chế, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược. Đây vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài. Đặt yêu cầu gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung mới, thể hiện tính hướng đích của phát triển nguồn nhân lực. Chỉ với nguồn nhân lực có khả năng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý mới tạo ra năng suất cao để phát triển nhanh và bền vững.

Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Kết cấu hạ tầng là “đường dẫn” cho các yếu tố sản xuất dịch chuyển và là điều kiện để phát triển văn hóa xã hội trên các vùng của đất nước. Sự yếu kém của kết cấu hạ tầng đang là cản trở lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh, không phát huy được tác động hội tụ và lan tỏa của các yếu tố nội sinh, không khai thác được vị trí địa kinh tế nằm trong chuỗi cung toàn cầu của nước ta và là nguy cơ làm gia tăng chênh lệch về mức sống giữa các vùng của đất nước. Trong 10 năm tới, chúng ta phải huy động các nguồn lực để thực hiện khâu đột phá này.

3. Về các định hướng phát triển

Trên cơ sở các quan điểm và mục tiêu tổng quát nêu trên, dự thảo Chiến lược đề ra 12 định hướng phát triển, tạo nên một hệ thống đồng bộ các giải pháp lớn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại như một chỉnh thể của phát triển bền vững; bảo đảm gắn kết hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Dưới đây, xin phân tích một số nội dung mới.

Có thể nói tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển các lĩnh vực xã hội hài hòa với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là những tư tưởng quan trọng nhất cũng là những nét mới trong tư duy phát triển.

Tái cấu trúc nền kinh tế không phải chỉ được đặt ra khi có khủng hoảng. Quá trình này diễn ra một cách tiệm tiến hoặc nhảy vọt theo sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự dịch chuyển lợi thế cạnh tranh giữa các nước. Nội dung và nhịp độ của tái cấu trúc phụ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, tái cấu trúc nền kinh tế phải diễn ra đồng thời trên các nội dung sau:

(1) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân. Mặt khác, phải hết sức coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân.

(2) Tái cấu trúc các ngành sản xuất và dịch vụ, trọng tâm là phát triển công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất; gắn kết chặt chẽ giữa áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất; giữa sản xuất, chế biến với phân phối trong một chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị đó; giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới.

(3) Tái cấu trúc các doanh nghiệp, tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh kinh tế dân doanh. Song song đó, mỗi doanh nghiệp phải tự tái cấu trúc để thích ứng với sự thay đổi về công nghệ và thị trường nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả.

(4) Coi trọng hơn thị trường trong nước. Phát triển mạnh hệ thống phân phối của các doanh nghiệp nước ta trên thị trường nội địa để có thể làm chủ thị trường này, tạo cơ sở vươn xa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do.

(5) Điều chỉnh cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tư. Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu nhất, đồng thời đẩy mạnh huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch. Hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường.

Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất

Để thực hiện các nội dung tái cấu trúc trên đây, phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và nguồn lao động chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại. Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với nhau và tích hợp tác động, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh. Trong đó, khoa học và công nghệ là động lực quyết định; con người đóng vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, thực hiện chức năng quản lý. Có kỹ năng quản lý hiện đại mới phát huy tối đa tác động của hai nhân tố trên.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt nhưng không thể hành động theo ý muốn mà phải tạo ra các tiền đề và điều kiện cho quá trình chuyển đổi. Những tiền đề và điều kiện đó chính là các đột phá chiến lược. Chính vì vậy, trong thời kỳ chiến lược tới, nhất là trong những năm đầu, phải tập trung giải quyết các khâu đột phá, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu, theo hướng chuyển mạnh sang chiều sâu.

Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là công việc đòi hỏi sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của cộng đồng doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò mở đường và hỗ trợ còn doanh nghiệp là chủ thể, lực lượng chủ công của tiến trình này.

Văn hóa xã hội là lĩnh vực rộng lớn có nhiều nội dung gắn kết tương tác lẫn nhau, tác động mạnh đến kinh tế và mọi mặt của đời sống, đến từng con người và cả cộng đồng. Văn hóa hình thành nên hệ giá trị của một quốc gia, tạo ra bản sắc của một dân tộc, là yếu tố quan trọng trong tư duy phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “văn hoá soi đường cho quốc dân đi”. Dự thảo Chiến lược xác định “phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa xã hội hài hòa với phát triển kinh tế..., xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển”, đặt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là một điểm nhấn của dự thảo Chiến lược, góp phần khắc phục những bất cập, yếu kém, tạo bước phát triển mới trên các lĩnh vực văn hoá, xã hội.

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân, đã có những văn bản quy định về một số chính sách cụ thể. Dự thảo Chiến lược lần này đã đề cập một hệ thống các quan điểm và chính sách tương đối đồng bộ và toàn diện làm cơ sở cho việc phát triển một hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội hiệu quả, bền vững.

Thể hiện nhận thức đầy đủ hơn về nguy cơ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với sự phát triển bền vững, dự thảo Chiến lược trình bày phương hướng cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể về bảo vệ và cải thiện môi trường, nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, địa phương, trong từng dự án; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và phát triển các dịch vụ môi trường. Chủ động triển khai chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.

4. Về nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước

Để thực hiện thắng lợi Chiến lược với những nội dung chủ yếu nêu trên, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Dự thảo Chiến lược đã thể hiện nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa ba thành tố của cơ chế này trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ, Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Trong cơ chế đó, nhân dân ủy nhiệm cho Nhà nước thực hiện quyền lực quản lý với chức năng cơ bản là tạo môi trường cho sự phát triển và phục vụ sự phát triển. Phải đặt yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dự thảo xác định các chức năng quản lý và kiến tạo phát triển của Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đề ra các giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước; nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Cùng với việc hoàn thiện các thiết chế thực hiện dân chủ, tăng cường dân chủ trực tiếp, Dự thảo đề cao vai trò phản biện xã hội, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước các cấp. Thông qua phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình mà góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý.

III. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong năm đầu thực hiện Chiến lược

Những quan điểm và định hướng của Chiến lược 2011 - 2020 phải được thể hiện ngay trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Chính phủ đã báo cáo và Quốc hội đã thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm 2011. Nghị quyết đã nêu toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp lớn.

Sau đây là những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2011.

1. Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát

Chúng ta thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 trong bối cảnh kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng chậm hơn, giá cả hàng hóa tăng cao hơn năm 2010, khủng hoảng nợ công trong khu vực đồng Euro có nguy cơ lan rộng, đồng Đô la Mỹ - đồng tiền chủ yếu trong thanh toán quốc tế bị giảm giá, giá vàng tăng, làm thay đổi các kênh đầu tư, gây biến động lớn thị trường tài chính quốc tế.

Ở trong nước, năm 2010 kinh tế phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (6,78%), xuất khẩu tăng nhanh (25,5%), nhập siêu chỉ còn bằng 17,3% kim ngạch xuất khẩu, thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể giảm mạnh. Tuy nhiên, lạm phát và lãi suất tăng cao, tỷ giá biến động, gây sức ép đến ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh khó khăn và đe doạ tăng trưởng bền vững. Trước tình hình đó, năm 2011 phải tập trung sức để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm.

Phải giảm bớt chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư; kiên quyết cắt giảm các công trình chưa thực sự cần thiết, tập trung nguồn lực cho các dự án tạo ra năng lực sản xuất và năng lực xuất khẩu mới, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu, sớm đưa vào sử dụng; giảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại, kiềm chế tốc độ tăng giá.

Thực tiễn những năm qua, cho thấy, chính sách vĩ mô phải chuyển những thông điệp rõ ràng nhằm tạo niềm tin cho thị trường và định hướng cho sản xuất kinh doanh. Phải theo sát sự vận động của kinh tế thế giới và trong nước; nâng cao năng lực dự báo, chủ động, nhạy bén trong phản ứng chính sách; linh hoạt sử dụng phù hợp các công cụ của chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính khi không thực sự cần thiết; nâng cao hiệu quả bình ổn và điều hòa nguồn vốn giữa các tổ chức tín dụng của thị trường liên ngân hàng; kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, bảo đảm kinh doanh trung thực, tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn.

2. Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Tập trung hoàn thiện thể chế, tạo lập thị trường đất đai lành mạnh trên nguyên tắc đất đai là công thổ quốc gia và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân. Nhà nước và người giao lại quyền sử dụng đất phải là những đối tượng được hưởng lợi chủ yếu từ việc chuyển giao quyền sử dụng đất. Đây là nguyên tắc cơ bản để hình thành chính sách và thị trường đất đai.

Đẩy nhanh tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước tuy là một nội dung của tái cấu trúc doanh nghiệp nhưng lại là điều kiện để tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế - một tiêu chí của kinh tế thị trường. Phương hướng và nội dung chủ yếu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước là đẩy mạnh cổ phần hoá và cải cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, phải chuyển từ hoạt động đa dạng sang chuyên môn hoá nhằm thực hiện chính sách cơ cấu; đẩy mạnh đổi mới và sáng tạo, nâng cao hiệu quả và tạo lập năng lực cạnh tranh dài hạn để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Điều quan trọng là phải đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh và quy định các chỉ tiêu chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Cải cách cơ chế và tổ chức nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc và công khai kết quả kiểm toán.

Năm 2011, phải triển khai mạnh mẽ chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, coi đây là một nội dung trọng tâm của tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp. Khẩn trương hoàn chỉnh cơ chế, chính sách phát triển và tổ chức quản lý công nghiệp hỗ trợ. Tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp chế tạo với doanh nghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn và phát triển công nghiệp hỗ trợ theo cụm nhóm sản phẩm trên cơ sở thị trường có sự định hướng của Nhà nước, tập trung vào một số sản phẩm cơ khí, thiết bị điện, điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin... Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả rộng như dịch vụ du lịch, dịch vụ phân phối, vận tải, dịch vụ logistics và các dịch vụ cảng biển, nhằm tận dụng vị thế địa kinh tế của nước ta trong chuỗi cung toàn cầu. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm thúc đẩy dịch vụ tài chính và kinh doanh bất động sản phát triển lành mạnh. Triển khai chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam thành nước mạnh về công nghệ thông tin.

Nhận thức đầy đủ hơn vai trò quan trọng có tính chiến lược của nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, triển khai mạnh mẽ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn, đầu tư phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh. Tăng cường công tác kiểm tra theo các tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh thực phẩm từ sản xuất, chế biến, lưu thông đến tiêu dùng. Đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo quản, dự trữ để giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng hàng hóa, điều hoà cung cầu, ổn định giá cả.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường

3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường, tập trung vào các nhiệm vụ sau đây:

Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư để huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; mở rộng các hình thức đầu tư theo cơ chế BOT, BT, khẩn trương ban hành quy định về hợp tác công - tư (PPP) để phát triển hệ thống giao thông, nhất là các công trình lớn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, xác lập quyền sử dụng đất, thủ tục hải quan, thuế, nhằm giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.

Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Hướng mạnh hoạt động của Ngân hàng phát triển vào việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng nguồn kinh phí bảo lãnh tín dụng và năng lực thẩm định dự án được bảo lãnh của Ngân hàng này. Ưu tiên nguồn tín dụng cho các sản phẩm trọng điểm. Nghiên cứu việc phân bổ hạn mức tín dụng cho các khu vực doanh nghiệp theo mức đóng góp vào GDP và kim ngạch xuất khẩu.

Phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nước ngoài, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra chất lượng các mặt hàng nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng và khuyến khích sản xuất trong nước. Coi trọng hơn thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn. Đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam.

4. Phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc

Xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020, Chương trình giảm nghèo bền vững và chương trình việc làm giai đoạn 2011 - 2015; phấn đấu để năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% theo chuẩn mới; phát triển các loại hình bảo hiểm, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội.

Hoàn thiện chính sách khám chữa bệnh, chính sách viện phí. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bệnh viện từ nguồn vốn Nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng bệnh viện; tăng cường đưa bác sỹ về các bệnh viện tuyến huyện và các xã, bảo đảm sự đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đội ngũ thầy thuốc sử dụng các trang thiết bị, cải thiện chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục; tiếp tục thực hiện các đề án về giáo dục đào tạo đã được phê duyệt; coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông trên cả hai nội dung dạy chữ và rèn luyện nhân cách, dạy làm người. Trên cơ sở bảo đảm đội ngũ giáo viên, điều kiện dạy và học để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng; triển khai xây dựng một số trường đại học chất lượng cao theo chương trình hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế. Phát triển mạnh đào tạo nghề với số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu thị trường, chú trọng đào tạo nghề cho công nghiệp hỗ trợ. Phát triển nhanh thị trường công nghệ. Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, hướng mạnh vào xây dựng văn hóa trong ứng xử, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, làm cho văn hóa thấm sâu vào hành vi và nếp sống của mỗi người Việt Nam.

Làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân và doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật. Triển khai Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, các chương trình nâng cấp đê biển, đê sông, các giải pháp chống ngập úng cho các thành phố lớn; ứng phó có hiệu quả với thiên tai bão lũ.

Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện có hiệu quả các chương trình phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

5. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý trên nguyên tắc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thúc đẩy hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường. Rà soát lại hệ thống phân cấp, bảo đảm tăng cường sự quản lý thống nhất của trung ương về quy hoạch phát triển, khai thác tối đa lợi thế so sánh theo tầm nhìn liên vùng nhằm tiết kiệm nguồn lực và bảo đảm quy mô kinh tế; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của địa phương, cơ sở. Chuẩn bị tốt việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân và kiện toàn chính quyền các cấp nhiệm kỳ mới theo yêu cầu xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực hiệu quả; lấy phục vụ nhân dân làm chức năng chủ yếu của chính quyền các cấp.

Cùng với những nhiệm vụ nêu trên, chúng ta phải luôn coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Chính phủ và các bộ ngành, địa phương phải dành sự quan tâm chỉ đạo tốt công tác chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Tân Mão, thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm nguồn hàng, kiểm soát giá cả, giữ vững an ninh trật tự xã hội, bảo đảm an toàn giao thông; chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách để mọi người dân đều được đón Tết vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm.

***

Thời gian vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã sôi nổi đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng Đại hội sẽ đề ra một Chiến lược đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Tổ chức thực hiện tốt Chiến lược mà trước hết là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2011 là việc làm thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đi vào cuộc sống và thực hiện điều căn dặn của Bác Hồ kính yêu trước khi Người đi xa là “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

CHỦ ĐỘNG ĐỐI PHÓ RỦI RO LÃI SUẤT, TỶ GIÁ


Thời điểm hiện nay phải chấp nhận duy trì một mức lãi suất tương đối cao một thời gian để chống lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái.

Chủ động đối phó rủi ro lãi suất, tỷ giá

Thời điểm hiện nay phải chấp nhận duy trì một mức lãi suất tương đối cao một thời gian để chống lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái.

Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) cả nước tháng 11 có mức tăng 1,86% so với tháng 10-2010. Như vậy, cả năm CPI sẽ ở mức hai con số. Lạm phát cao không phải hoàn toàn do chính sách tiền tệ nhưng việc duy trì một mức lãi suất VNĐ cao như hiện nay là điều không thể tránh khỏi.

Giải quyết vòng xoáy lạm phát, giá cả

CPI tháng 11 tăng mạnh là do một số nhóm ngành đã tăng rất mạnh như giá lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng tăng gần 13%, nhóm hàng hóa và dịch vụ giáo dục tăng 19%, giá vàng tăng 23,31%. Ngoài ra, tỷ giá tăng mạnh còn do sự biến động giá cả trên thị trường thế giới.

Những tháng cuối năm, nhu cầu tiêu dùng vật tư, hàng hóa tăng cao và biến động giá vàng và tỷ giá cũng tác động làm tăng giá cả thị trường. Như vậy có thể thấy căn bệnh lạm phát tăng cao hoàn toàn không phải do chính sách tiền tệ, tức không phải do tiền bơm ra quá nhiều.

Điều cần triệt tiêu hiện nay là khi thấy CPI tăng cao người dân có tâm lý “tát nước theo mưa” đẩy giá hàng hóa lên cao.

Vì vậy, biện pháp chống lạm phát hữu hiệu là phải làm tốt việc kiểm soát giá cả, chống đầu cơ tăng giá và củng cố lòng tin của dân chúng.

Riêng về chính sách tiền tệ, thời điểm hiện nay phải chấp nhận duy trì một mức lãi suất tương đối cao một thời gian để chống lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Bởi lẽ, khi một đồng tiền có lãi suất cao thì đồng tiền đó tăng giá, làm giảm áp lực về tỷ giá hối đoái.

Lãi suất cao sẽ dẫn đến tiêu dùng và đầu tư ít đi, người dân sẽ gửi tiết kiệm nhiều hơn, giúp kiềm chế lạm phát và quan trọng là giúp nền kinh tế thoát khỏi vòng xoáy lạm phát cao đẩy tỷ giá tăng, tỷ giá tăng đẩy lạm phát cao.

Giải pháp tiền tệ duy nhất để chống lạm phát hiện nay là biện pháp tăng lãi suất. Không chỉ tăng lãi suất huy động và cho vay ở các NHTM mà đòi hỏi NHNN cũng phải tăng các loại lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở để ổn định lãi suất liên NH và đảm bảo thanh khoản cho các NHTM.

Bởi lẽ nếu để lãi suất thấp trên thị trường mở sẽ dẫn đến tình trạng các NHTM lớn lợi dụng lợi thế tiếp cận dễ thị trường mở để vay vốn rẻ và cho các NHTM nhỏ vay lại với lãi suất cao. Điều này dẫn đến vốn rẻ trở thành không rẻ và khi đến tay doanh nghiệp vẫn cao.

Nếu không có cơ chế đặc thù cho phép NHNN bơm vốn rẻ đến một số NH cần vốn thì việc đưa mức lãi suất trên thị trường mở cao hơn sẽ triệt tiêu việc làm giá về lãi suất giữa các NHTM, tránh lãi suất liên NH tăng nóng như vừa qua. Thông qua việc tăng lãi suất trên thị trường mở, NHNN sẽ phát đi dấu hiệu thắt chặt tiền tệ nhưng sẵn sàng cung ứng vốn bảo đảm thanh khoản cho các NHTM nhỏ khi có nhu cầu.

Thời điểm hiện nay phải chấp nhận mức lãi suất cao.

Hệ quả thắt chặt tiền tệ

Các NHTM hiện nay huy động đầu vào 13-15%/năm thì đầu ra cho vay ít nhất 17-18%/năm, thậm chí 20-22%/năm. Với mức lãi suất cho vay này, tăng trưởng tín dụng rất khó và thực tế không chỉ các doanh nghiệp không mặn mà trong vay vốn mà các NHTM cũng không dám cho vay nhiều.

Với tình hình thị trường hiện nay, các NHTM sẽ phải duy trì mức lãi suất huy động và cho vay cao cho đến sau Tết Nguyên đán mới có thể giảm xuống. Từ nay đến cuối năm cần chú ý và cẩn trọng phòng ngừa rủi ro lãi suất và hối đoái.

Thứ nhất, với rủi ro lãi suất các NHTM hầu hết đều huy động vốn kỳ hạn ngắn, nếu có huy động vốn kỳ hạn dài đều cho phép khách hàng có thể rút vốn trước hạn.

Trong khi đó, từ đầu năm đến nay tỷ lệ dư nợ cho vay dài hạn từ 1 năm trở lên không phải nhỏ. Trong bối cảnh các NHTM nhỏ liên tục tăng lãi suất và áp dụng nhiều chiêu giành khách hàng tiền gửi, các NHTM có nguy cơ đối mặt rủi ro về kỳ hạn tài chính giữa tiền gửi và cho vay tăng lên khi khách hàng rút tiền chuyển sang NH khác gửi, hoặc rút vốn để mua USD hay vàng.

Chưa kể, do yêu cầu thanh khoản, nhiều NHTM nhỏ chấp nhận huy động vốn lãi suất cao trong khi cho vay ra không được, nên hiệu quả kinh doanh thấp là vấn đề lớn các NHTM sẽ phải đối mặt.

Thứ hai, từ đầu năm đến nay không ít NHTM đẩy mạnh cho vay ngoại tệ thông qua mở các L/C xuất nhập khẩu cho khách hàng. Đối với khách hàng vay vốn là doanh nghiệp xuất khẩu thì không có vấn đề gì, nhưng riêng đối với các doanh nghiệp nhập khẩu là vấn đề lớn.

Nếu thời điểm này các NHTM không đẩy mạnh quản lý rủi ro, kiểm soát tín dụng ngoại tệ và quản lý tài sản nợ, tài sản có tốt thì việc đối diện với rủi ro hối đoái có thể làm các NHTM rơi vào tình trạng nợ xấu tăng. Có thể thấy chấp nhận tăng lãi suất là chấp nhận tăng trưởng chậm, các NHTM có thể lỗ hoặc không lãi. Đó là cái giá của việc chống lạm phát trong bối cảnh hiện nay.

Tuy nhiên, điều trị căn bệnh lạm phát bằng lãi suất cũng không thể kéo dài mãi. Vì vậy, bên cạnh chính sách tiền tệ đòi hỏi Chính phủ phải đẩy mạnh thực hiện chính sách tài chính nghiêm ngặt, phải thắt chặt chi tiêu công. Lạm phát cao hiện nay một phần do hệ quả việc chi tiêu công cao và không hiệu quả.

Ngoài ra, Chính phủ cần can thiệp mạnh vào thị trường ngoại tệ để đưa tỷ giá ổn định, góp phần kiểm soát giá cả? Và khi đó lãi suất mới có điều kiện giảm một cách căn cơ.

Nguồn: Sài Gòn giải phóng

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

kakaka kaphuchia

Khởi hành 5h đi đến cửa khẩu mộc bài (Bavet) men theo quốc lộ 1 qua tỉnh

P8140333.JPG


Uống beer Ăng ko


P8140339.JPG



Cầu Kompong Kdei xây dựng từ thế kỷ 12


P8140341.JPG



Khám phá Siêm Riệp Huyền bí


P8150361.JPG



Ăng korr wat


P8150387.JPG


Ăng kor Thom

IMG_2408.JPG


Biển hồ và làm từ thiện

IMG_2413.JPG


IMG_2418.JPG


Đỉnh Bakkeng

IMG_2423.JPG



Cung điện nhà vua

IMG_2431.JPG


Và về lại cửa khẩu

IMG_2442.JPG


Thế là hết, một nền văn mình sông nươc rực rỡ phù nam, đọng lại là những chùa tháp cũ nát, nhưng hoành tráng,


Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Không có bữa ăn nào miễn phí

Không có bữa ăn nào miễn phí

Người Mỹ có câu, "trong một sòng bài "phé" (poker) bịp bợm luôn có một nạn nhân. Nếu bạn không biết ai là nạn nhân, thì người đó chính là bạn".

Chuyện ngày xưa kể rằng có một vị vua Hi Lạp được tiếng là thông minh đức độ cai quản một xứ sở thanh bình an khang. Ông có một thư viện thu thập cả chục ngàn cuốn sách suốt lịch sử văn minh loài người và có ước muốn là chia sẻ những kiến thức khôn ngoan này cho trăm họ.

Ông triệu 500 nhà thông thái nhất của quốc gia và yêu cầu họ cùng nhau ngồi xuống tóm lược mọi "tinh túy văn hóa" nhất của nhân loại vào một vài lời dễ hiểu (thay vì một thư viện sách) để mọi người dân cùng thấm thía đạo của trời và của người. Sau hơn một tháng, 500 nhà thông thái đưa lên một văn bản 5 trang là công trình tóm lược. Vị vua thấy vẫn còn quá phức tạp, dân thường không ai có thể thấm nhuần được tư tưởng kiểu này. Sau đó là một tóm lược còn 3 trang, rồi 1 trang rồi 1 phân đoạn. Nhưng vị vua vẫn không vừa ý. Cuối cùng ông cười hả hê khi vị đại diện trao cho ông cái túi khôn ngoan của nhân loại trong một câu văn độc nhất, "Không có bữa ăn nào miễn phí cả" (there is no free meal).

Đây là một thực tế hiển nhiên mà con người thời đồ đá cách đây 10 ngàn năm hiểu rất rõ. Ngày nào mà không săn được con mồi nào đem về hang động, là ngày đó gia đình phải đói. Rồi loài người tiến hóa thành cộng đồng văn minh hơn, tổ chức những xã hội có tầng lớp và phân chia công tác theo khả năng của từng người. Xã hội mới đẻ ra một tầng lớp lãnh đạo có đầu óc và tham vọng.

Từ đế chế Trung Quốc đến Ai cập và sau đó La Mã, Anh, Mỹ... giới quý tộc và chính trị gia giàu có luôn luôn bận rộn suy nghĩ tìm những thủ thuật và phù phép để có "những bữa ăn miễn phí" dâng lên từ tầng lớp nghèo hèn. Nếu nhìn vào cốt lõi, đây là một hình thái "ăn cắp", nhưng được che đậy bằng những mỹ từ cao đẹp và văn hoa, giống như một bộ quần áo thời trang đắt tiền của Louis Vuitton sẽ che đậy những mục nát của thân thể béo phì, làm mờ mắt người qua lại.

Xã hội ngày nay dù có tiến bộ cũng không dễ gạt bỏ nổi lòng tham "ăn free" vốn đã mọc rễ trong lòng người 10 ngàn năm qua. Chuyện kiếm tiền, càng nhanh càng nhiều càng tốt, là một đề tài thời thượng, hấp dẫn và lan tràn khắp mọi mạng truyền thông từ tin thời sự trên báo đến những câu chuyện ở quán cà phê, những bài giảng trong lớp học.

Trong dư luận, không thiếu những chuyện thích bắt chước lẫn nhau không đóng góp một công sức gì cho xã hội nhưng tìm đủ mọi cách để bòn rút ăn cắp. Hiện tượng phổ biến đến nỗi không ai còn cảm giác ngạc nhiên hay phẫn nộ khi bị lộ diện.

Năm 2008, các chính phủ Âu Mỹ (và sau đó toàn thế giới) phát động chương trình kích cầu chống suy thoái, nhưng thực sự đây chỉ là một hình thức ăn cắp tiền của dân để cứu các ngân hàng và các nhà đầu tư lớn, có thế lực chính trị. Khi khó lấy tiền thuế trực tiếp của dân, các chính phủ đã tìm những mánh khóe ly kỳ hơn... như đi vay bừa bãi để thế hệ sau phải gánh nợ chồng chất, hay in thêm tiền để gây lạm phát (anh có 10 đồng, tôi muốn lấy 2, tôi chỉ việc làm cho tiền mất giá 20% là anh đã bị mất tiền mà không hề hay biết).

Chính phủ Trung Quốc còn hay hơn nữa, họ giữ lãi suất ngân hàng dưới 2% trong suốt 30 năm để lấy tiền tiết kiệm của dân cho các tập đoàn nhà nước vay kinh doanh (thực sự các quan làm ăn theo lối OPM (tiền người khác- other people's money; nên mất rất nhiều trong các lỗ lãi, thất thoát và nợ xấu mà không ai phải chịu trách nhiệm). Trò phù phép khác là giữ tỷ giá Yuan (nhân dân tệ) thật thấp để được xuất khẩu cao (nhằm lấy thuế, ngoại tệ và tài sản nhờ giá lao động rẻ mạt của nhân công và không cho họ hưởng thành quả đáng lẽ phải đến từ giá trị cao của đồng tiền).

Các tầng lớp tư nhân giàu có thì lợi dụng những khe hở của pháp luật (ở Mỹ) hay lạm dụng mối quan hệ với các quan chức (ở Trung Quốc) để tìm những dự án "ăn free" như trưng dụng đất đai của nông dân nghèo, lấy hỗ trợ tài chính của chính phủ (tiền dân), chia chác các hợp đồng béo bở về xây dựng hạ tầng hay quân sự (không bị giám sát nhiều). Những vụ đầu cơ, làm giá hay lướt sóng trên các thị trường tiêu thụ hay tài chính chỉ là các hình thức thác của thủ thuật ăn cắp.

Trong khi đó, nhóm bị lợi dụng (những con kiến làm việc chăm chỉ, âm thầm đóng góp cho kinh tế) thì hoa mắt với những đánh bóng hư ảo của các "nhân vật" xã hội, chỉ ước ao bắt chước mọi hành vi lố lăng của họ. Hình ảnh được truyền bá khắp nơi, như một trò ru ngủ khiến mọi người quên đi cái túi tiền của mình.

Người Mỹ có câu, "trong một sòng bài "phé" (poker) bịp bợm luôn có một nạn nhân. Nếu bạn không biết ai là nạn nhân, thì người đó chính là bạn". Ngay cả những sinh viên với một đầu óc tương đối trong sạch, tiến bộ, cũng quan tâm đến chuyện "kiếm tiền" hơn là kiếm kiến thức (năm 2008, một thống kê 3.600 sinh viên năm thứ tư cho thấy 71% sinh viên Mỹ và 84% sinh viên Trung Quốc coi chuyện kiếm tiền sau khi tốt nghiệp là mục tiêu quan trọng nhất).

Người bình dân Việt Nam có câu nói "coi dzậy mà không phải dzậy". Chỉ tiếc là dù nhiều người cũng cảm thấy bị lừa dối, nhưng việc bận rộn mưu sinh và sự đam mê các màn xiếc và trò giác đấu (thời La Mã) hay các giải bóng đá và những cuộc thi hoa hậu, lễ hội (thời nay)... đã làm phần lớn dân chúng quên đi cái giá sẽ phải trả này.

Chuyện ngày xưa kết thúc bằng sự thất bại của vị vua khi truyền bá học thuyết "không có bữa ăn nào miễn phí". Người vi phạm luật đầu tiên là bà hoàng hậu rồi sau đó là các hoàng tử, công chúa, và quần thần. Ông vua thất vọng, bỏ đi tu trên núi xa. Có lẽ để nghiền ngẫm lời đức Phật về "tham, sân, si", ba vấn nạn lớn nhất cho sự giải thoát của tâm hồn.

Còn bây giờ, chúng ta đang sống trong một thời đại mà phần lớn các dân tộc của chủ nghĩa toàn cầu đều chia sẽ quan điểm là... cái gì cũng có thể free cả, cứ việc dùng mọi thủ đoạn để gom góp, và việc duy nhất cần để ý là tránh đừng để bị tố giác. Danh từ thời thượng gọi là "hạ cánh an toàn".

Tôi vừa coi xong cuốn phim mới nhất, Wall Street 2: Money never sleeps. Vai chính Gordon Gekko có một câu nói thú vị, "Ngày xưa, tham lam là một tật xấu cần thiết để tạo động lực cho kinh tế. Bây giờ, tham lam là một hành xử hợp pháp và hợp thời trang".

  • Về tác giả:T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc).